Feeds:
Posts
Comments

Website đăng các bài giảng, sách của Trưởng lão Thích Thông Lạc, TU VIỆN CHƠN NHƯ tại:

http://www.tuvienchonnhu.com

Email: chonnhu.info@gmail.com

Kính mời quý đạo hữu có duyên tìm hiểu.

Kính chúc quý đạo hữu thân tâm thương an lạc, thảnh thơi!

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

TRAU DỒI TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

Trước đây chúng tôi đã giảng về Tứ Vô Lượng Tâm, nhưng chưa có nêu pháp hành rõ rệt. Bây giờ chúng tôi sẽ trình bày những pháp hành cụ thể, cũng giống như sau khi có được địa danh, bây giờ ta lấy địa chỉ rõ ràng để đi đến nơi đến chốn.

Tâm ta vốn dĩ đầy ắp tham, sân, si, không phải hàng ngày cứ nói diệt tham, sân, si mà nó hết đâu. Phật nói dùng tâm từ để diệt tâm sân, nhưng tâm chưa có từ thì làm sao diệt được sân? Vậy làm thế nào để trau dồi tâm từ?  Phải trau dồi, tập sống với tâm như tâm Phật (rộng lớn vô bờ bến), phải tập dứt ác và thể hiện tình thương rộng lớn. Thí dụ khi người chửi ta, liệu ta có thương họ mà tha thứ cho họ  được không?  Hầu hết chúng ta đều nhớ lời Phật dạy lấy tâm từ để diệt lòng sân hận, nhưng có mấy ai làm được?  Và làm thế nào để thể hiện tâm từ vô biên?

Tu là phải thực tập, rèn luyện từng chút mới có được từ, bi, hỷ, xả.  Nếu Thầy nói mà các con nghe chơi, và chẳng thực tập gì cả thì thật là uổng công, mệt sức, mất thì giờ vô ích.  Khi vào đạo Phật trước tiên chúng ta nhớ là phải thông hiểu. Sau khi thông hiểu thì ta phải trau dồi (nhìn vào địa chỉ để mà đi).

Thế nào là Tứ Vô Lượng Tâm?

Tứ là bốn, Vô lượng Tâm là tâm rộng lớn mênh mông, phủ trùm tất cả chúng sanh, không thể nào suy lường, tính toán được.  Tâm này thoát ra khỏi sự ràng buộc dây mơ rể má của mọi tình cảm, thương ghét, giận hờn, tỵ hiềm, kiêu căng, nghi ngờ, ngã mạn của phàm phu, phá vỡ mọi tà kiến, thân kiến, chấp kiến. Càng trau dồi tâm thì nó càng rộng lớn và sự hiểu biết của ta càng phát triển. Từ đó ta mới thực hiện tâm vô ngã.  Nếu không có bốn tâm từ, bi, hỉ, xả thì ta khó thực hiện được tâm vô ngã. Vô lượng tâm còn có nghĩa là  đẳng tâm, là tâm bình  đẳng (xem người và vật như nhau).  Tâm này tự nhiên, không so đo, cao thấp, hơn kém, mà phổ biến, ban rải khắp mọi nơi, mọi chỗ, không giới hạn.  Do trau dồi tâm bình đẳng này mà làm lợi ích cho vô lượng chúng sanh thoát khổ.  Tâm này có công năng mang lại cho chúng sanh vô lượng phước báo, nghĩa là không bao giờ làm phiền lòng ai.  Biết rằng ở đời ai cũng có cái khổ, cái khó khăn, nên ta cần phải thường xuyên áp dụng tâm bi.  Thí dụ khi có một người tức giận ta, ta hiểu là người ấy đang khổ (bởi vì tâm bình thường đâu có đau khổ).  Khi  thực hiện tâm bi là thực hiện ở chỗ đau khổ, tai nạn của người.  Nếu thực hiện được tâm từ thì ta có thể đem lại lợi ích cho chúng sanh trong nước và các nước khác, ta sẽ sống an vui, không có chiến tranh, đau khổ.

Vô lượng phải hiểu qua năm trường hợp sau đây:

1/ Vô lượng nhân lành: đem lại nhân lành cho mọi người. Thí dụ khi người ta chửi mình thì mình không giận mà còn năn nỉ  để họ mát dạ, không chửi nữa. Đó là ta thông cảm và giúp đỡ họ.

2/ Vô lượng quả  đẹp: luôn luôn  đem  đến sự tốt  đẹp, không phiền toái, khiến cho chúng sanh nào cũng được an lành.

3/ Vô lượng chúng sanh: mang lại lơiï ích cho rất nhiều chúng sanh.  Thí dụ trong y áo của chúng ta có đầy kiến.  Học tập tâm từ thì ta không nên đập giủ mạnh khiến cho chúng có thể bị thương tích và chết mất.  Vì mưa gió cho nên chúng mới chạy vào nhà tìm nơi trú ẩn. Nếu ta không muốn cho chúng vào thì phải ngăn chận từ đầu. Bây giờ nó vô đầy trong nhà mà ta quét đổ hết ra ngoài mưa, hoặc đem đốt đi thì tội vô cùng.

4/ Vô lượng thế giới: cả thế giới trùng trùng, điệp điệp (không gian).

5/ Vô lượng đời kiếp: đời đời kiếp kiếp được an lành (thời gian).

THÀNH PHẦN VÀ HÀNH TƯỚNG CỦA TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

Thành phần của Tứ vô lượng Tâm là: từ vô lượng, bi vô lượng, hỷ vô lượng, và xả vô

lượng.

1- TỪ VÔ LƯỢNG:

Từ Vô lượng là lòng mến thương vô cùng vô tận của chúng ta đối với tất cả chúng sanh, từ con người đến con vật, cây cỏ. Lòng từ ban rải khắp tất cả thì ta sẽ tránh (vô tình) gây đau khổ cho chúng sanh, và đem lại cho chúng sanh cái vui chân thật. Cái vui do chính lòng từ mang đến sẽ làm cho vạn vật vui mừng, cỏ cây tươi tốt, trong đó có ta. Đức Phật khi đi còn không giẫm, đạp lên cây cỏ sợ nó héo úa, thậm chí còn không bỏ thức ăn lên cỏ vì sợ thức ăn mặn làm chết cỏ, còn ta thì cứ đạp bừa lên, nhổ tận gốc rễ. Bởi vậy chúng ta cần phải thực hiện Tứ Vô Lượng Tâm.

Nói về lòng từ thì trong đời sống của chúng ta có hai cái vui:

1) Cái vui bền bỉ chân thật.  Đây là lòng từ, bi, hỷ, xả của ta ban rải khắp mọi loài chúng sanh trong mọi hoàn cảnh, khiến cho tất cả đều được an vui.

2) Cái vui ngắn ngủi giả tạm. Đây là cái vui còn bị phiền não chi phối vì có tham, sân, si  đòi hỏi. Cái vui này là vui theo dục lạc, được thì vui, mất thì buồn; và dục lạc không bao giờ có thể thỏa mãn hoàn toàn được. Phật dạy:  Kẻ ngu si, vô minh mới chạy theo dục lạc.  Nó là thứ dục lạc ảo giác, không có thật, chỉ có người trí mới hiểu biết mà thôi. Bởi vậy theo lộ trình mà Thầy hướng dẫn thì Phật tử phải đi theo đúng đường để thoát khỏi phiền não tham, sân, si và không bị dục chi phối. Nó không ồn ào sôi nổi, mà yên lặng, nhẹ nhàng. Một bóng, một mình mà vui trong cảnh giới siêu phàm, khi hòa mình cùng cái vui của vũ trụ, vạn hữu. Trong niềm vui bất diệt của vạn pháp, thấy ta có vẻ cô đơn mà thực sự không cô đơn. Ta phải so sánh để chọn lấy một nguồn vui chân thật. Muốn tìm được nguồn vui chân thật thì hàng ngày quý vị phải trau dồi thân tâm của mình trong ba hành động của nó. Nghĩa là hằng ngày trau dồi ba hành động của thân bằng pháp môn cụ thể.

Trong người của ta có ba cái hành khác nhau là thân hành, khẩu hành và ý hành. Ta phải lấy tứ vô lượng tâm đễ trau dồi ba cái hành này:

a/ Thân hành có hai:  chân hành và tay hành.

b/ Khẩu hành gồm có ăn và nói.

c/ Ý hành có: ý thiện, ý ác và ý không thiện không ác.

1/ Trau dồi từ tâm nơi thân hành:

A/ Chân hành: khi đi thì ta phải theo sát hành động đi và có pháp hướng tâm (như lý tác ý) để gợi lên lòng thương yêu của ta đối với chúng sanh. Đây không phải là tu Chánh Niệm Tỉnh Giác Định mà là mượn cái hành động chân đi để thực hiện tâm từ ở dưới bàn chân, trong mỗi bước  đi của chúng ta.  (Mỗi người có thể, tùy theo đặc tướng riêng của mình, soạn thêm những câu pháp hướng tương tự cho phù hợp với mình).

– ĐI : Cần phải phân biệt thế nào là tâm và thế nào là ý?

– Ý là nhân; Tâm là quả, cho nên ý làm mà tâm chịu ( ý làm ác tâm chịu khổ, ý làm thiện tâm hưởng phước).

Kinh Pháp Cú có câu:

Ý dẫn đầu các pháp,

Ý làm chủ, ý tạo.

Nếu với ý ô nhiễm,

Nói lên hay hành động,

Khổ não bước theo sau

Như xe, chân vật kéo

Ý thì có ý căn (óc não), còn tâm thì không có tâm căn, vì tâm là quả của ý, ý là nhân của tâm. Nếu gọi tâm mà bảo là ý thì cũng như đánh trâu kéo cày vừa la thá, vừa la ví thì con trâu biết đường đâu mà đi?  Bởi vậy nên có người mới thắc mắc mà hỏi tại sao dùng pháp hướng nhắc tâm mà nó vẫn trơ trơ không có kết quả. Tại vì ta đặt không đúng chỗ, không  đúng tên, không  đúng trường hợp của nó thì làm sao có kết quả được?

Bây giờ các bạn đã phân biệt được ý và tâm, nhờ đó chúng ta dùng ý dẫn tâm để thực hiện tâm từ nơi bước đi: Dưới bước chân ta đi có rất nhiều sinh vật nhỏ bé và thảo mộc đang sống. Ta phải đi cẩn thận để tránh thương tổn, hoặc giết hại các sinh vật. Nhờ nhắc như vậy mà tâm ta tỉnh thức và lưu ý ở bàn chân. Đi một lúc, sợ nó quên thì ta lại nhắc nữa. Nhờ nhắc nhở hoài nó gây cho ta tâm thương yêu, thắm thía. Nếu hàng ngày trau dồi tu tập như thế thì lòng từ của ta huân tập thành thói quen thương xót và ban rải khắp chúng sanh. Khi tâm từ ta ban rải thì ngọn cỏ ta cũng không nỡ đạp lên, sợ nó mềm yếu, héo úa. Khi ta trau dồi lòng từ như vậy thì nếu người ta có chửi mắng ta cũng không giận. Bấy lâu nay nếu ta không trau dồi thì dù có nghe, có lập lại phải quán từ bi để diệt tâm sân nhưng ta không tập, hoặc tập không rốt ráo thì khó mà thành công.  Quán thì ngồi im lìm, đó là tịnh; còn ĐI là động, ta phải trau dồi trong hành động.

Trên đây là cách tập luyện thực tiễn của người cư sĩ.  Đợi đến khi thành Bồ Tát rồi mới trau dồi Tứ Vô Lượng Tâm là một điều sai lầm. Người cư sĩ phải học tập và trau dồi ngay tâm từ, bi, hỷ, xả để cuộc sống an vui, xã hội tốt đẹp hơn, và đất nước thanh bình, không có tranh chấp, chống đối nhau. Còn các tỳ kheo thì học tập để giữ gìn giới luật và tu tập thiền định.

– ĐỨNG: khi đứng ta cũng nhắc:  Chúng sanh chung quanh ta có rất nhiều, nếu ta đứng trên chúng thì chúng có thể bị tổn thương, héo úa, hoặc bị đè bẹp mà chết. Từ nay mỗi ngày ta phải ráng thực tập ít ra vài ba lần. Có tu tập như vậy thì lòng ta mới thấm nhuần vạn vật muôn phương.

– NẰM:  Khi nằm ta cũng nhắc như vậy. Do đó trong ngày nếu có bao nhiêu lần ta đi, đứng, nằm, ngồi thì ta được bấy nhiêu lần trau dồi. Cũng như người thợ vót tên, mỗi ngày cứ chăm chỉ vót mũi tên cho nhọn và  đều thì cuối cùng cũng sẽ  đạt như ý muốn.  Thân ta cũng phải trau dồi như vậy thì tâm ta mới được an vui.

Đây là câu pháp hướng khi nằm: Tất cả chúng sanh sẽ ở dưới lưng ta. Ta hãy xem xét kỹ chỗ nằm có chúng sanh ở dưới đó không rồi mới nằm.  Nhiều lúc ta quá mệt mỏi và ta không để ý có các sinh vật ở dưới nếu ta vô tình nằm lăn qua lăn lại là ta đã giết chết chúng sanh (kiến, nhện, dán, bò cạp v.v…), nó rên la đau đớn mà ta nào có hay.  Bởi vậy khi lăn qua, lăn, lại ta phải nhắc tâm, lưu ý và thực hiện cho được từ, bi, hỷ, xả.  Muốn trau dồi lòng từ thì hàng ngày ta phải siêng năng, nỗ lực tu tập thì mới có kết quả. Tâm ta dần dần sẽ thấm nhuần, rộng lớn bao la.

– NGỒI: Khi ngồi ta cũng nhắc như vậy. Khi ngồi ta có thể đè bẹp chúng sanh ở phía dưới. Vậy ta phải cẩn thận, quan sát xem có chúng sanh ở chỗ ngồi không. Nếu không để ý, khi ngồi lắc qua lắc lại ta có thể làm đau khổ và chết chóc chúng sanh.

Trau dồi tứ vô lượng tâm là thể hiện tâm từ vô lượng mà còn phòng hộ sáu căn. Người tu sĩ mà ngồi lắc lư thì mất trang nghiêm, mắt láo liên, ngó qua, ngó lại là không  đoan trang.  Người tu sĩ thì không nên nhìn người khác phái mà phải nhìn xuống dưới đất, tránh gây đau khổ, chết chóc cho chúng sanh.

Trên đây là trau dồi hành động của thân, khi đi, đứng, nằm, ngồi, tức là ta tỉnh thức để tránh gây đau khổ, chết chóc cho chúng sanh. Trau dồi hành động của thân khiến ta càng ngày càng tăng thêm tình thương đối với chúng sanh để có 1) sức tỉnh thức lớn, 2) lòng thương yêu nhiều. Nhờ đó mới diệt trừ được tham, sân, si và dứt trừ ngũ cái.

Khi tứ vô lượng tâm ngự trị ở tâm ta thì ngũ triền cái sẽ không còn đeo đẳng theo ta nữa. Sự thật không phải đơn giản; mà chính ta phải ra sức tu tập bền chí siêng năng mới thắng được. Mình nói mình thương chúng sanh mà thực tế là mình thương mình, chứ chưa có thương ai hết. Xưa có câu chuyện của Hoàng Hậu Vi Đề Hy hỏi vua Bình Sa Vương (Bimbisara) rằng: “Bệ Hạ có thương thần thiếp không?”  Vua rất đỗi ngạc nhiên, đáp rằng:

– Trẫm không thương ái khanh thì còn thương ai nhất trên  đời này?

Hoàng Hậu đáp:

– “Hoàng Thượng nói vậy chứ thật ra Hoàng Thượng thương Hoàng Thượng nhất!”

– “Sao lạ vậy?”

– “Thí dụ bây giờ thần thiếp yêu một ông quan nào trong triều thì Hoàng Thượng có còn thương thần thiếp nữa không hay là bắt giam thiếp vào trong ngục hoặc đem xử tử? Đó là Hoàng Thượng thương Hoàng Thượng chứ đâu có thương thần thiếp!”

Quả thật, nếu hay tin vợ mình lấy một người khác thì người chồng sẽ nổi cơn thịnh nộ ngay. Vậy thì yêu ở chỗ nào?  Nếu là yêu thật sự thì phải để cho người mình yêu được hạnh phúc chứ?  Là đệ tử Phật khi bị một con vật cắn đau (dù là con bò cạp) ta cũng không nỡ giết hại nó.  Chính vì lòng ích kỷ nhỏ nhen đó mà xã hội mới có tranh chấp, bất an, chứ nếu lòng thương yêu của chúng ta rộng lớn chắc chắn không có sự bất an đó.

Cho nên bài học đầu tiên trong Phật pháp là Tứ Vô Lượng Tâm. Tại sao thế?  Vì muốn con người biết thương yêu nhau, và xây dựng một xã hội tốt đẹp, có trật tự, an ninh. Hình thức bên ngoài thì ta thấy các quốc gia, xã hội có trật tự, mà bên trong thì chưa có. Đời sống ngày càng khó khăn thì lòng người càng ly tán. Đức Phật dạy ta phương pháp để trau dồi tâm từ. Khi ta đang đi thiền hành và biết dùng pháp hướng nhắc tâm tức là ta đang trau dồi tâm từ. Còn nếu trong bước đi mà ta thấy trong ta có tình thương yêu rộng lớn, và luôn luôn tránh né để không giẫm đạp lên kiến hay một bất cứ loại côn trùng nào tức là ta viên mãn lòng từ vô lượng. Với tâm từ như vậy thì ta không nỡ  đạp lên cỏ, ngắt một ngọn lá, bẻ một cành cây, hay hái một cành hoa. Tâm ta phủ trùm, thương yêu khắp vạn vật.  Chỉ cần một pháp này cũng đủ để giải thoát. Khi có lòng thương rộng lớn thì không tham, không giận, và ngã chấp cũng không còn. Thương yêu cá nhân thì ngã mới có. Không phải chờ đến khi nhập Tứ Thiền, đắc Tam Minh mới diệt hết lậu hoặc, chẳng phải chờ đến khi nhập Niết Bàn mà lòng ta đã là Niết Bàn sau một năm tu tập tinh chuyên!

Giờ  đây chúng ta mới hiểu vì sao Phật cấm các tỳ kheo trồng cây cối, hoa kiểng, không làm một nghề nào cả. Còn làm là còn động đến chúng sanh, là làm cho chúng sanh đau khổ.  Không phải ta ích kỷ mà vì ta muốn thực hiện lòng yêu thương phủ trùm vạn vật. Tóm lại, hàng ngày chúng ta phải trau dồi tâm từ trong bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi bằng pháp hướng tâm.

B/ Tay hành:  Trau dồi tâm từ trong hành động tay là khi đang cầm, nắm, bắt tất cả những vật dụng, hoặc khi mặc áo, ăn cơm, ta phải luôn luôn như lý tác ý. Thí dụ như câu: Tất cả những vật dụng, cơm ăn, áo mặc, thuốc thang đều do mồ hôi, nước mắt của người. Vậy ta phải biết ơn, thương yêu họ và thương yêu mọi người, dù người đó có hay không có cúng dường cho ta. Thậm chí nếu có người đánh, mắng, chửi rủa ta, ta cũng không bao giờ đánh, mắng, chửi rủa, hay to tiếng với họ, làm cho họ khổ sở. Ta phải nói lời nhẹ nhàng cho người vui và không buồn khổ nữa.

Khi cầm, nắm, bắt, tay ta cũng phải nhẹ nhàng, từ tốn vì trên  đồ vật  ấy có thể có chúng sanh, nếu ta mạnh tay là ta có thể giết chết sinh vật ấy. Tập luyện như vậy là tập luyện tỉnh thức trong hành động để trau dồi tâm từ, bi, hỷ, xả chứ không phải là chánh niệm tỉnh giác định.

Muốn trau dồi tâm từ trong các hành động nơi tay thì ta phải tác ý thường xuyên để không vô ý làm đau khổ chúng sanh.  Khi tinh tấn, siêng năng tu tập tức là ta thực tập tỉnh giác, dần dần ta mới thật sự thương yêu chúng sanh. Khi chúng sanh đang mạnh giỏi mà ta thương yêu là ta ban lòng từ rộng lớn; còn khi chúng sanh bị nạn, đau khổ mà ta săn sóc, giúp đỡ là ta thực tập lòng bi. Hàng ngày ta phải tránh né để cho chúng sanh sống an vui, ca hát là ta trau dồi lòng từ.

Từ thuộc về nhân, khi chúng sanh không bị đau khổ; bi thuộc về quả khi chúng sanh đang bị đau khổ.  Người ta đang sợ hãi mà ta đến trấn an là bi.  Nhường chỗ ngồi cho một bà già đang đi trên xe đò là từ.  Lòng từ biến mãn khắp mười phương, khiến cho cỏ cây, vạn vật sống an vui, không có sự sát hại, gây khổ đau dù là vô tình giẫm, đạp lên côn trùng. Có lòng từ thì không có tâm chấp chặt, chỉ có sự bình đẳng, thương yêu nhau xuất phát từ trong đáy lòng của ta.

Nếu ta không trau dồi lòng từ thì nó chỉ là hình thức suông, là những danh từ hoa mỹ từ bi, bác ái. Bấy lâu nay ta nghe thấy các danh từ ấy nhưng ta chưa thực hiện đúng mức giữa người và người, cũng như giữa người và vật.  Nói cho cùng, chúng ta lầm chấp thân tâm này là ngã (của ta).  Bao giờ ta còn lầm chấp như thế là ta không có lòng từ bi thật sự.  Muốn được thật sự có lòng từ bi thì hàng ngày ta phải trau dồi nó thì ta mới có được.  Nhờ đó mà bản ngã ta mới tiêu mòn và ta thấy trong vạn vật có mình, mà như không có mình. Ta cần phải có câu pháp hướng để thực tập. Đây là điều rất quan trọng, nó là ngọn đuốc soi đường ta đi.

Khi nắm, bắt lấy một vật gì, ta phải hành động nhẹ nhàng, từ tốn.  Đây là oai nghi, tế hạnh của thầy tu. Mỗi hành động của tay, chân đều hướng tâm, nhắc tâm ta thương yêu mọi loài. Từ đó tâm ta mới thấm nhuần sâu tận xương tủy, và biến mãn ra thân mình đầy lòng thương yêu chân thật.

Cần ghi nhớ ở đây không phải ta tu tập chánh niệm tỉnh giác định, mà là tu tập hạnh nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng, tu tập tỉnh thức để thể hiện lòng từ bi.Người có lòng từ bi không bao giờ biết sợ hãi trước ác thú, hiểm nguy. Loài vật chung quanh ta cũng biết sợ hãi (cọp, beo, voi, gấu). Do sợ hãi mà nó nhìn ta chăm chăm (vì mắt ta có vẻ hung dữ?). Con vật thấy người tu, mắt nhìn xuống thì nó an tâm, và không sợ hãi. Người không tu khi thấy con vật lớn thì lo cao chạy xa bay, khi thấy con vật nhỏ thì đánh, bắt, giết.  Bởi vậy họ có thể bị ác thú giết hại (vì trong người họ toát ra từ trường ác).  Người có tâm từ thì không hãm hại thú dữ mà còn thương yêu nó nữa. Tu sĩ sống trong rừng hài hòa với thú là do lòng từ chứ không phải là do công phu thiền định. Những con vật nhỏ hơn như rắn, rết, bò cạp có chất độc là để bảo vệ thân nó khi nó bị tấn công, mạng sống bị đe dọa. Khi có lòng từ thì đi trên xe đò ta cũng không sợ (bị móc túi), vì đã ban rải lòng từ cho họ. Người thường, nếu có cái gì quý giá thì họ nơm nớp lo sợ, còn ông thầy tu thì có cái gì mà sợ mất trộm?

Để kết luận, ta có thể nói rằng trau dồi lòng từ không phải là chuyện đơn giản. Đạt được phân nửa là ta đã sống an vui, thanh thản.  Nếu muốn đạt lòng từ trọn vẹn một trăm phần trăm thì ta phải vứt bỏ hết tất cả tài sản, của cải thế gian. Khi ta thật sự có tâm từ thì trong lòng không còn sợ hãi nữa.

2/ Trau dồi tâm từ nơi miệng (khẩu hành):

a/ Khi ăn, uống, nhai, nuốt: phải cẩn thận trong khi ăn uống kẻo nhai nuốt lầm chúng sanh.  Thí dụ khi ta vội vã ăn một cái bánh có mấy con kiến là ta nuốt chúng luôn. Ta phải từ từ, lấy que nhỏ đưa con vật (kiến, sâu) ra khỏi thức ăn của ta (rau cải, trái cây, bánh v.v…).  Người tu sĩ cũng như cư sĩ đều phải thực tập như thế.  Luôn luôn phải như lý tác ý: Khi  ăn, uống, nhai, nuốt ta phải cẩn thận  để không nhai nuốt chúng sanh.  Làm cho chúng sanh đau khổ, chết chóc trong khi ta ăn uống là một điều tội lỗi.

b/ Khi nói:  Muốn nói một điều gì phải cân nhắc, suy tư chín chắn rồi mới nói.  Lấy đó làm câu pháp hướng để không nói lời làm khổ mình, khổ người.  Lời nói ác độc, nói đùa, mỉa mai cũng làm cho người ta đau khổ.  Hầu hết chúng ta không biết trau dồi lời nói, khi muốn nói là cứ nói tùy thích, không hề nghĩ  đến hậu quả của nó. Không nên đặt điều nói lời oan ức cho người khác (chuyện có nói không, chuyện không nói có).  Nếu mình không muốn người ta nói lời oan ức cho mình thì mình cũng đừng nói lời oan ức cho người.

Phải gìn giữ lời nói đúng đắn, không làm khổ mình, khổ người để trau dồi tứ vô lượng tâm.

“Ta là người hay nhiều chuyện, lắm mồm, vậy hàng ngày ta phải trau dồi miệng”.   Tùy theo nhược  điểm của mình mà  đặt thêm cho mình những câu pháp hướng tương tự cho phù hợp với đặc tướng của mình.

Ách giữa đàng, mang vào cổ, chuyện người người biết, chuyện mình mình hay; đừng có tài khôn mà chuốc lấy họa vào thân. Thật là vô ích khi mình đến can thiệp vào chuyện của người để rồi tranh chấp, đôi co.

Nếu thường xuyên hướng tâm thì ta rất tỉnh táo, khi nói sẽ cẩn ngôn (suy tư rồi mới nói) và giảm tốc độ (có thì giờ suy nghĩ trước khi nói).  Nếu gặp chuyện xảy ra mà nói lia lịa, lỡ nói rồi làm sao lấy lại được?  Nếu ta không khéo, nói phóng theo tư tưởng gã chấp thì có ngày sẽ chuốc họa vào thân. “Từ nay ta phải yên lặng, sống thầm lặng (độc cư), không được lắm mồm trước mọi hoàn cảnh, mọi đối tượng.”

Do miệng lưỡi nói ra mà kẻ sân, người khổ, kẻ quyên sinh.  Do miệng lưỡi mà gia đình ly tán, bè bạn tránh xa. Do miệng lưỡi nói ra mà vạn vật, sinh linh phải chết (đến nhà người bạn chơi, khen con gà tốt quá, nếu làm thịt ăn thì ngon tuyệt).  Do miệng lưỡi nói ra mà có người bị tù đày, biệt xứ.  Miệng lưỡi nói ra mà gia đình người ta xào xáo, anh em chia lìa, tăng đoàn tan rã, v.v…  Nói chung, sự đau khổ của con người ta ở thế gian này phần đông là do miệng lưỡi.  Vậy hàng ngày chúng ta phải trau dồi miệng lưỡi để nói lời lành, lời thiện.  Phải thường xuyên như lý tác ý câu này:  Ta không nói thì thôi, mà nói ra thì phải làm vui lòng người.  Nói ra mà làm vui lòng người là ta thương người.  Làm người ta phải thương người, thấy sự  đau khổ của người như chính sự đau khổ của ta.

3/. Trau dồi tâm từ nơi ý hành:

Muốn trau dồi ý, ta phải tư duy:  Thân tất cả chúng sanh cũng như thân ta thường đau khổ đói khát. Ta hãy thương yêu và chăm sóc chúng như chăm sóc con ta vậy.

Sự tư duy được nhắc đi nhắc lại nhiều lần khi nhìn hoạt động các loài vật (một đàn kiến  đi qua), nó có buồn, vui,  đau khổ (nó ra sức bảo vệ khi bị con vật khác tấn công). Từ đó ta tư duy đến đời sống của các sinh vật.  Khi có con vật bị gặp tai nạn ta phải ra tay cứu nó (con kiến té xuống nước mà ta vớt lên là hành  động của từ tâm). Khi nghe con nhái bị con rắn cắn thì ta phải mau mau chạy ra can thiệp để cứu nó.  Khi một bầy chó hùa nhau tấn công một con chó khác trong xóm thì ta phải can ngăn, một con chim nhỏ bị con chim lớn mổ, cắn thì ta phải ra tay cứu giúp nó.

Khi để ý, quan sát đời sống của loài vật thì ta mới thương yêu, cảm thông chúng.  Lúc ngồi nghỉ ngơi mà có thể giúp đỡ được cho chúng thì lòng ta thấy vui mừng, tâm ta tỉnh táo và ta cũng tu tập thiền định nhanh hơn là cứ ngồi yên một chỗ luyện tập hơi thở.

Sự quan sát còn làm cho tri kiến ta ngày càng rộng lớn hơn. Từ đó ta tư duy mới thấy hạnh phúc ở trần gian chỉ là giả tạo. Ngồi thiền nhập định để làm chủ sanh tử mà không trau dồi tâm ý là một điều thiếu sót lớn. Thế nên, mỗi ngày chúng ta cần phải bỏ ra vài ba phút, hoặc hai ba chục phút để quan sát mọi loài, lắng nghe tiếng kêu khổ, cầu cứu của chúng sanh. Hành  động như vậy sẽ giúp cho sự tu tập của ta rất nhiều. Từ trước đến nay chúng ta tu tập mà không có người hướng dẫn cặn kẽ, không biết phải tu tứ vô lượng tâm như thế nào, trau dồi ra sao, lấy cái sau tu cái trước, lấy cái trước đem tu phía sau.

Trau dồi lòng từ là tu cái tham, sân, si chứ không phải diệt tham, sân, si rồi mới tu tập lòng từ. Cứ mãi lo nén tâm, tập hơi thở, ngồi thiền làm cho dứt sanh tử luân hồi, trong khi tham, sân, si chưa dứt thì làm sao có lòng từ? Đức Phật dạy các tu sĩ và cư sĩ tu tập để sống một đời an vui, xã hội có trật tự an ổn. Nếu ta tu một hai năm và trau dồi tứ vô lượng tâm qua thân, khẩu, ý thì chắc chắn ta sẽ có hạnh phúc rất lớn, hạnh phúc chân thật cho ta và gia đình ta. Hãy tự hỏi bấy lâu nay ta tu tập, 5 năm, 10 năm, 20 năm mà gia đình ta có an vui, giải thoát không, hay là như ngục tù, đau khổ? Nơi nào đạo Phật đến thì phải có giải thoát thật sự. Nếu không thấy giải thoát thật sự thì đó không phải là đạo Phật chân chánh.

Có bao giờ quý vị nhìn cỏ cây, ngắm hạt sương đọng trên cỏ vào buổi sáng tinh mơ?  Có bao giờ quý vị để ý đến ngọn cỏ non mấy bữa trước, hôm nay đã bung ra thành lá cỏ không? Hãy theo dõi cuộc sống đang diễn biến trước mắt chúng ta, rồi ta mới thấy thương yêu cỏ cây, loài vật. Cỏ cây và loài vật mà ta thương được thì làm sao mà ta không thương  được con người? Dù cho người có oán ghét ta, ta cũng không để dạ, mà phải sống buông xả và thanh thản. Do đó đời ta không có người thù mà chỉ có người đã hiểu và người chưa hiểu ta mà thôi.

Khi ta trau dồi được ý thì thân và khẩu sẽ không còn khó khăn nhiều.

2- BI VÔ LƯỢNG

Bi vô lượng là lòng thương vô bờ bến trước nỗi khổ của chúng sanh.  Người có lòng bi không đành lòng ngồi yên nhìn sự thống khổ của chúng sanh.  Đành rằng sự đau khổ của thế nhân là cái duyên nhân quả, nhưng lòng bi không cho phép chúng ta làm ngơ.  Phải dùng lời khuyên bảo, thăm hỏi, có hành động cứu giúp (khi thấy con vật bị gãy chân, ta ôm nó vào lòng, xoa nhẹ trên vết thương). Đừng sợ mất thì giờ trong cuộc đời ta khi phải lo giúp đỡ cho người và cho vật.  Hành động đó, thời gian đó quý báu hơn là vàng bạc, ngai vàng của nhà vua.  Làm được việc ấy thì lòng ta cũng cảm thấy hân hoan.  Vàng bạc, của báu không thể đem lại nguồn vui lâu dài bằng niềm vui giúp người, vật bị lâm nạn, đau khổ.  Nên nhớ khi giúp cho chúng sanh được an vui, hạnh phúc, ta cũng tìm cách giúp cho chúng sanh xa lìa nhân ác, để sống vui, chứ không phải chỉ giúp họ khi họ bị khổ. Và khi họ cứ rơi vào đường khổ thì phải dạy cho họ hành động thiện, tập nhân tốt để tránh quả khổ. Lúc còn ở Hòn Sơn Thầy đã lấy cái que can hai con kiến ra mà nó vẫn cứ xáp vô đánh nhau hoài. Cuối cùng Thầy phải can ra và cách ly hai con vật xa thì chúng nó mới hết cơn giận. Con vật mà như vậy, huống hồ là cơn sân hận của con người!

Khi chúng ta trau dồi tâm từ là ngăn ngừa những điều kiện có thể làm cho chúng sanh đau khổ, còn trau dồi tâm bi là nhắm ngay vào sự đau khổ của chúng sanh để mà xoa dịu, an  ủi.  Muốn  được như vậy thì lúc nào ta cũng trau dồi, nhắc nhở tâm ta hãy thương người đang sân.  Khi nào rảnh rỗi thì phải tự nhắc tâm như thế, chớ không phải đợi đến lúc sân hận nổi lên mới áp dụng.  Nếu thường xuyên thực tập, nhắc nhở như thế thì khi thấy một người đang sân với ta, ta mới có thể thương được.

– Hãy thương người  đang bị bệnh khổ. Nhiều lúc ta cứ tưởng là ta thương người, nhưng thật ra ta không thương người bằng ta thương ta.  Đó là một trạch pháp mà ta phải thường áp dụng để nhắc nhở tâm mình.

– Hãy thương người đang buồn khổ.  Nhắc tâm như thế để ta tìm cách giúp đỡ người đồng thời cũng gợi được nơi ta lòng thương người đang buồn khổ.

– Hãy thương người có tai nạn. Hãy thương người trộm cắp. Đó là những câu trạch pháp mà ta thường áp dụng để nhắc nhở, và tìm mọi cách để chỉ cho họ thấy cái nhân đau khổ  để họ không còn tham lam, trộm cắp nữa. Vì thương người nên khi thấy người đến trộm cắp của ta thì ta không giận mà còn thương hại họ. Nếu ta không thường trau dồi lòng bi thì ta có thể bắt họ bỏ tù.

– Hãy thương người đang si mê. Người đang uống rượu, hút thuốc, cờ bạc v.v… là người đang si mê.  Giả sử có người đến chửi mắng ta, hỉ mũi quẹt cột, khạc nhổ, và còn gọi là thầy chùa này, thầy chùa nọ, liệu ta có chịu đựng nổi không? Lúc ấy ta phải nhắc tâm, ta hiểu là họ đang mê muội thì ta thương hại họ. Nếu tha thứ được cho người thì ta sẽ không khổ.

– Hãy thương người đang tị hiềm.  Khi biết có người tị hiềm, tìm cách nói xấu ta, mà

ta không giận họ; trái lại còn thương hại họ.

– Hãy thương người đang cống cao, ngã mạn. Kẻ nào cho rằng mình hiểu biết tất cả, và đã chứng ngộ là người đang si mê, cầu danh, chấp ngã rất nặng. Do đó ta tránh tranh luận với họ để đem lại sự an ổn cho ta và cho người.

– Hãy thương người tàn tật. Trong khi có sáu căn  đầy  đủ, hãy thương yêu những người khốn khổ, sáu căn khiếm khuyết.  Hãy tặng cho họ một món quà nho nhỏ, như cục xà bông, kem đánh răng, hay cái bàn chải cũng đủ an ủi họ. Phải thường xuyên trau dồi, nhắc nhở tâm, nếu không nó sẽ quên đi vì nó bận đeo đuổi theo những sinh hoạt của người đời.

– Hãy thương người già yếu.  Vì một ngày kia ta cũng sẽ như vậy, kính cho họ lối đi, nhường cho họ chỗ ngồi, đưa họ băng qua đường.

– Hãy thương tất cả chúng sanh vì tất cả chúng sanh đều đau khổ.

Ta hãy đặt một tình thương rộng lớn (từ vô lượng, bi vô lượng), từ đó tâm ta lúc nào cũng an vui với vạn hữu.  Tình thương đầy khắp tất cả, chan hòa nơi nơi, và ta sống thảnh thơi, an lạc trước vạn hữu và thường xuyên trau dồi tâm bi vô lượng của ta.

3. TÂM HỶ VÔ LƯỢNG

Có từ, bi nên mới có hỷ.   Hỷ là vui, vui vẻ với mọi người (người thương, kẻ oán). Nói cho đủ là tùy hỷ.  Vô lượng là tràn đầy, phủ trùm.  Hỷ tâm có hai loại:

1/ Hỷ vô lượng dục lạc (vui theo ngũ dục lạc):  Đây là cái vui ngắn ngủi, mê muội của

người phàm phu, chạy theo trần cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Nó có sức cám dỗ con người đi đến chỗ đau khổ bất tận.  Cái vui này, ở xa như hạt kim cương, khi đến gần chỉ là hạt nước mắt.  Cho nên Đức Phật mới dạy rằng:  Nước mắt chúng sanh nhiều hơn bốn bể.  Đó là hỷ vô lượng dục lạc.  Tâm con người là một cái túi không đáy, chạy theo dục lạc để tận hưởng, và không bao giờ biết ngừng, như con thiêu thân lao vào ánh đèn.  Thế nên con người cứ phải quanh đi lộn lại sanh tử muôn đời, muôn kiếp, không bao giờ dứt khổ. Khi có nhà lá thì mong có căn nhà ngói. Lúc có nhà ngói thì mơ được căn nhà lầu.  Hoặc là kẻ đang đi xe đạp thì ước ao được đi xe Honda (dream).  Khi có xe Honda thì lại muốn có xe hơi như người ta.  Đây là hỷ vô minh, còn gọi là hỷ ảo giác (chạy theo ăn ngon, mặc đẹp, v.v…).  Vui theo dục lạc là vui theo với ác nghiệp.  Khi thấy người sát sanh, trộm cắp, tà dâm, hút xách, đã không ngăn cản mà còn vui theo, tán thành sự vui chơi theo con đường ác là hỷ vô lượng tâm theo ác pháp (ác pháp cũng nhiều vô lượng).

Bấy lâu nay chúng ta chỉ nghe Hỷ Vô Lượng Tâm, tức là thiện pháp. Nếu tốt thì mới là nẻo của Đạo Phật, nẻo của thiện pháp, của sự giải thoát, an lạc. Hỷ dục lạc thế gian là hỷ ác, tạo cảnh địa ngục trần gian. Chẳng cần phải đợi mai sau, cái hỷ này tạo cho ta địa ngục ngay tại trần thế. Từ nay biết được như thế thì ta phải xa lìa, viễn ly, dứt bỏ đi, chắc chắn chúng ta sẽ không có địa ngục ở trần gian.  Cái hỷ đau khổ của biển đời trầm luân nầy chỉ có người trí mới thoát được, còn người vô minh, mê muội khó mà thoát khỏi.  Chúng ta tu tập pháp Phật Giới, Định, Tuệ, thì phải có trí tuệ siêu việt mới mong tu tập được pháp này; nếu không thì ta vẫn còn nằm trong vòng tay của các loại hỷ nầy.

Quý vị hãy tự xét xem mình đã thoát khỏi vòng tay ấy chưa?  Nếu còn trong vòng tay của các loại hỷ này thì đời đời kiếp kiếp ta sẽ chuốc lấy tai ương.  Muốn trau dồi tâm hỷ vô lượng thì ta phải nhắc tâm ta bằng như lý tác ý:  Hỷ của dục lạc là tai nạn, là bệnh tật, là khổ đau; vậy ta phải lánh xa cái hỷ này.

Phải thường xuyên quán xét, trau dồi tâm ta như thế để cảnh giác xa lìa nó, vì nó có sức cám dỗ ta rất mạnh, như đá nam châm.  Thỉnh thoảng ta lại nhắc tâm như thế này: “Hỷ của dục lạc là tai nạn, là bệnh tật, là khổ  đau  để xa lìa, yểm ly ngũ dục lạc.”;  “Hỷ của ngũ dục lạc là  ảo giác, là thuốc  độc, là rắn  độc giết hại con người. Ta hãy lánh xa các loại hỷ này.”

Do thường xuyên nhắc tâm như thế cho nên trước sự săn sóc, thương yêu nồng nàn,trước sắc đẹp lộng lẫy ta mới đem lòng sợ hãi. Nhìn thấy thật là khả lạc, khả ái, hamthích, nhưng đụng vào nó là đâm vào gai chông, không phải là hạnh phúc gì đâu.  Biếtđược như vậy, thấy suốt như vậy là không vô minh. Nếu không biết như vậy, không thấu suốt như vậy là vô minh. Câu này ta cũng phải thường xuyên nhắc đi nhắc lại để đoạn dứt lòng ưa thích thế gian. Tùy theo  đặc tánh của mỗi người mà ta tùy nghi thêm vào câu pháp hướng để có đủ sức mạnh và giúp ta thoát khỏi những cám dỗ của vật chất.

“Vui theo ác pháp là hỷ tâm vô lượng ác, làm đau khổ chúng sanh, là giết hại chúng sanh. Ta hãy tránh xa hỷ này, yểm ly hỷ này, từ bỏ hỷ này.”  Đó là các câu trạch pháp mà ta phải thường ghi nhớ, trau dồi tâm mình  để tu thập thiện, và chống lại thập ác.  Là người tu sĩ Phật giáo, khi thấy ai làm ác là phải tránh xa, làm gì có sự vui theo?  Một ông thầy tu không thể đứng trước hàng thịt, hoặc ngắm tô phở có mấy lát thịt nằm trên đó. Thấy các ác pháp, thấy sự đau khổ, chết chóc, của chúng sanh, nếu ta không thể can thiệp, giúp đỡ được thì ta hãy lánh xa để không nhìn thấy cảnh tang thương, khốn khổ, máu đổ thịt rơi, đau lòng, nát dạ.  Khi thấy hai người đang đánh nhau chí tử, nếu không can ngăn họ mà còn cổ võ (vui theo) thì ta không phải là người đệ tử Phật.

2/ Hỷ tâm vô lượng giải thoát: là vui với việc làm từ thiện của người khác. Khi có người bố thí, cúng dường, hoặc xây nhà thương, trường học thì ta liền tán thán, vui theo, và tận tâm giúp đỡ với lòng hân hoan, sung sướng.  Sự vui theo này là một bước tiến trên  đường thiện nghiệp.   Nếu ta có tiền của thì ta nên  đóng góp, giúp  đỡ người.  Nếu không có tiền của thì ta hãy bỏ công sức ra phụ giúp công tác từ thiện ấy. Vì tâm bi vô lượng, thấy quá nhiều khổ đau trong xã hội nên ta không thể ngồi yên mà tư duy suông.  Ta phải làm một cái gì đó để góp phần ban vui, cứu khổ cho mọi người, làm sao cho mọi người được no ấm, thoát khỏi bệnh tật, khổ đau. Bệnh viện, thuốc thang chỉ xoa dịu sắc thân của họ. An ủi, cảm thông, khuyên nhủ là xoa dịu thương đau của tinh thần.

Hành bi tâm như vậy cũng chưa đủ.  Ta phải làm cái gì hơn thế nữa để diệt tận gốc khổ đau của muôn loài. Chỉ có Trung Tâm An Dưỡng Từ Thiện ra đời mới là nơi giúp đỡ người ta  được an vui, học tập  đạo  đức nhân quả, diệt tận mầm mống đau khổ.  Những việc làm này khiến ta vui theo vì nó mang lại lợi ích thiết thực cho con người, chấm dứt nhân ác, tăng trưởng nhân lành.  Còn gì sung sướng cho bằng khi con người thấy rõ đường đi lối về của nhân quả!  Biết được nhân quả thì loài người không làm điều ác.  Loài người không làm điều ác thì trần gian này là cõi Niết Bàn, là Thiên Đàng và không còn có người bất hạnh trong xã hội.

Ý của Thầy bấy lâu nay là xin phép thành lập Trung Tâm An Dưỡng để người ta có thể về đó an dưỡng một vài tháng cho đến hai, ba năm, và được sự hướng dẫn đường đi nước bước của nhân quả và đạo đức nhân quả để sống an vui và diệt tận gốc khổ đau của con người.  Từ đó họ không làm điều ác, tự họ đem lại hạnh phúc cho bản thân mình.

TU TẬP XẢ CÁI GÌ?

A/. Xả bỏ năm thứ dục lạc: sắc dục, tiền bạc, danh tiếng, ăn, ngủ.

1/. Tránh xa sắc dục: đừng gần gũi người khác phái.

2/. Không cất giữ tiền bạc, châu báu.  Nó là con rắn độc,khiến cho ta phải nô lệ nó suốt đời.  Bởi vậy trong giới luật Phật cấm các tỳ kheo cất giữ tiền bạc, mà những người mới xuất gia, thọ giới sa di cũng không được cất giữ tiền bạc.

3/. Tránh xa danh lợi: nếu ai khen mình tụng kinh hay mà mình tụng, thâu băng đem phổ biến thì đó là cầu danh. Nếu ai khen thuyết pháp giỏi mà mình ra sức thuyết pháp hoài thì cũng là danh, là dục lạc.

4/. Ăn mỗi ngày một bữa. Phải quán thức ăn là bất tịnh, như thuốc trị ghẻ đói cho ta.

5/. Ngủ phải luôn luôn tỉnh thức, không có sợ thiếu ngủ, thèm ngủ. Nằm suốt đêm không ngủ là xả ngủ.

Năm thứ dục lạc này mà ta không xả được thì không bao giờ ta xả được những thứ khác.  Nếu ai khen mà ta mừng, gặp gái đẹp mà nhìn, thì đến khi xả sáu thứ dục lạc thế gian (sắc, thanh, hương, vị, phúc, pháp) làm sao xả nổi?  Nó còn khó hơn ngũ dục lạc rất nhiều.  Đây là đối tượng của tâm, nó luôn luôn cám dỗ ta để trở lại phục vụ năm thứ dục lạc ở trên.

B/. Xả bỏ sáu thứ dục lạc:  Đó là đối tượng của sáu giác quan: sắc thanh, hương, vị,

xúc, pháp.

1/. Sắc:  sắc là đối tượng của mắt.  Sắc trong ngũ dục lạc là sắc dục, còn sắc trong sáu trần là hình ảnh, sắc tướng của các pháp, như cassette, TV, tủ lạnh, bàn, ghế, ly, tách, nhà, xe, người, vật.  Những hình ảnh có sức cám dỗ ta, tâm ta thích thú, khả ái, khả lạc, khả hỷ.

2/. Thinh:  âm thanh của người, vật, nhạc cụ làm cho tâm ta thấy khả ái, khả lạc, khả hỷ. Thí dụ thích thú khi nhảy đầm theo điệu Rumba, Cha cha Cha, v.v…

3/. Hương:  mùi thơm của các pháp có sức hấp dẫn khiến cho ta thấy khả ái, khả lạc, khả hỷ.

4/. Vị:  mùi vị ngon ngọt, cay đắng, có sức cám dỗ làm cho ta dễ chịu, ưa thích, khả ái,

khả lạc, khả hỷ.  Đứa con ăn cái bánh ngon cả tháng mà vẫn còn nhớ, còn thèm, và cứ

nhắc hoài:  Chừng nào ba đi chợ nhớ mua cho con cái bánh hiệu?

5/. Xúc:  Sự va chạm của các pháp sinh ra cảm giác mát, êm, nóng, lạnh, đau nhức, nhẹ nhàng, lâng lâng, say say, cảm giác khoái lạc, cảm giác khó chịu, cảm giác sung sướng, mừng vui, buồn khổ …  Người tu thiền mà có trạng thái thích thú say mê là đi vào hang quỉ.  Nên nhớ là tu thiền để làm chủ sanh tử, tức là làm cho các hành ngưng hoạt động; sau đó thì ta cho phục hồi sinh hoạt, trở về hơi thở bình thường.  Tu thiền không phải là đi vào đó để thọ dụng cái lạc thú của thiền định mà là để lấy lại sức cho ngày hôm sau tiếp tục làm việc.

6/. Pháp:  pháp ở đây không có nghĩa là bàn ghế, nhà, cửa mà là sự hiểu biết của cổ kim, nhân loại.  Nó bao gồm cả khoa học, toán học, văn học, sử học, thiên văn học, các kinh sách của các tôn giáo lớn trên thế giới và giáo lý của Đức Phật. Đó là kiến chấp của người thế gian.  Nó lôi cuốn và làm cho tâm ta ưa thích, xem đó là chánh pháp, là đúng pháp, ôm chặt khư khư, cho đó là khuôn vàng thước ngọc. Tu hành như thế khiến cho ta thấy khả ái, khả lạc, khả hỷ, rồi dính mắc không buông bỏ được. Vì thế cho nên mới có tranh luận hơn thua, chia ra pháp này, pháp nọ, không có gì giải thoát. Thí dụ cúng kiếng vào các ngày giỗ, kỵ (ở nhà), hoặc là giỗ tổ (ở chùa), nếu ta không làm thì bị mọi người than phiền, chỉ trích.  Mà làm tức là bị các pháp trói buộc, ta làm nô lệ cho phong tục, tập quán. Cho nên phải cương quyết bứt bỏ, mặc cho ai công kích, phản đối, ta phải nói: Tôi là thầy tu, tôi không thể làm chuyện mê tín như thế.

Tóm lại, các pháp thế gian là pháp cám dỗ, lôi cuốn con người đi đến chỗ làm ác, tạobao cảnh khổ cho nhau.  Người ta sát phạt nhau bằng lưỡi gươm, miệng kiếm. Có người chấp vào pháp tu của mình và nói xấu các thầy khác.

CÁCH THỨC TU TẬP XẢ TÂM

Muốn trau dồi tâm xả các pháp thì ta phải làm sao?  Hãy tìm một nơi thanh vắng, tịch mịch như trong rừng, gốc cây, hang đá, khe núi, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, bóng mát, trong chòi lá để tập xả các pháp. Ở ngay trung tâm thành phố thì làm sao xả được?

Sau khi ăn cơm độ hai tiếng đồng hồ, khi thức ăn đã tiêu hóa, lúc không thấy no, ta mới bắt đầu tu tập: ngồi kiết già, lưng thẳng, an trú, đặt niệm trước mặt, quán sát:

1) Sắc dục:  Con người ta sinh ra từ sắc dục.  Nó là con đường sanh tử, luân hồi, cho nên ta phải lấy nó làm đối tượng quán chiếu.  Nó là con đường đưa đến đau khổ cho ta và cho người.  Thương yêu, cưới nhau, rồi sinh con đẻ cái, lo nuôi nấng cho con lớn khôn, rồi dựng vợ, gả chồng cho nó.  Cả một đời đau khổ!  Vậy mà người ta cứ chạy theo sắc dục.  Quả là vô minh!  Quả là ngu si!  Ta phải như lý tác ý: “Sắc dục là con đường sanh tử của muôn loài, con đường đau khổ từ kiếp này sang kiếp khác. Ta phải xả bỏ, từ khước, thoát ly, ra khỏi, từ giã, không nên để tâm vướng mắc nó nữa.”

Muốn trau dồi tâm xả các pháp thì ta phải làm sao?  Hãy tìm một nơi thanh vắng, tịch mịch như trong rừng, gốc cây, hang đá, khe núi, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, bóng mát, trong chòi lá để tập xả các pháp.  Ở ngay trung tâm thành phố thì làm sao xả được?

Sau khi ăn cơm độ hai tiếng đồng hồ, khi thức ăn đã tiêu hóa, lúc không thấy no, ta mới bắt đầu tu tập: ngồi kiết già, lưng thẳng, an trú, đặt niệm trước mặt, quán sát:

1) Sắc dục:  Con người ta sinh ra từ sắc dục. Nó là con đường sanh tử, luân hồi, cho nên ta phải lấy nó làm đối tượng quán chiếu. Nó là con đường đưa đến đau khổ cho ta và cho người. Thương yêu, cưới nhau, rồi sinh con đẻ cái, lo nuôi nấng cho con lớn khôn, rồi dựng vợ, gả chồng cho nó. Cả một đời đau khổ! Vậy mà người ta cứ chạy theo sắc dục. Quả là vô minh! Quả là ngu si!  Ta phải như lý tác ý: “Sắc dục là con đường sanh tử của muôn loài, con đường đau khổ từ kiếp này sang kiếp khác. Ta phải xả bỏ, từ khước, thoát ly, ra khỏi, từ giã, không nên để tâm vướng mắc nó nữa.”

Nếu câu này mà chưa đạt được kết quả (hãy còn dục) thì ta hướng tâm như lý tác ý:  “Sắc dục là bất tịnh, là uế trược, nhớt nhao, hôi thúi, khó chịu vô cùng, tạo muôn ngàn tật bệnh, tai ương, và truyền nối nhau nhân quả luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác, không bao giờ dứt, một người để lại muôn người khổ, nối tiếp nhau vô cùng vô tận. Ta phải xả bỏ, xa lìa, viễn ly vĩnh viễn, xem nó như rắn độc, ung nhọt, cho nó là hiểm nguy nhất, là tai họa, là ác độc, là bệnh truyền nhiễm, nan y, khó chữa. Dứt khoát từ bỏ!”

Câu sau mạnh hơn, như truyền lệnh thì may ra ta mới có thể xa lìa.  Cuộc đời tu hành là cả một sự rèn luyện, trau dồi chứ không thể nói suông được.  Nhắc xong là ta ngồi đó để lặng tâm, giữ tâm thanh thản. Một lúc sau ta lại nhắc nữa, nhắc hoài như đập những nhát búa để cho tâm dần dần thấm nhuần, trau dồi tâm, xả sạch sắc dục, thấy sắc dục là ta hoảng sợ, không dám nghĩ tới. Nếu không thì nó sẽ ngủ ngầm, tạm thời nằm yên, nhưng có dịp là nó len lén ngắm nhìn (người nữ). Tu tập được thì thấy nó như rắn độc, là bệnh tật, là khổ đau, không còn cảm giác thích thú nữa.

Trong kinh Tứ Niệm Xứ có dạy trên thân quán thân, nhưng đây là dạy chung chung, người tu tập chưa nắm vững.  Thí dụ Phật dạy trên thân quán thân để khắc phục tham ưu của mình mà mình không biết lúc nào khắc phục tham ưu, lúc nào khắc phục bất tịnh.  Ở đây ta xả cái tâm sắc dục, tâm ái bằng cách đặt niệm trước mặt, tức là trên thân của ta quán thân, quán thân mình và quán các pháp bất tịnh.  Sau này có dịp Thầy sẽ giảng rõ hơn, dùng câu pháp hướng nào để phá vỡ, cái nào mà ta đang bị vướng mắc.  Người đọc kinh sách Phật, không hiểu mà tu tập, nay pháp này, mai pháp khác, không có kết quả cụ thể, càng tu càng chán nản, lầm đường, lạc vào pháp tu của ngoại đạo mà cứ tưởng là pháp Phật

Tóm lại, muốn xả tâm vô lượng ly sắc dục thế gian thì ta phải siêng năng trau dồi tâm xả của ta.  Hàng ngày không được biếng trễ thì mới xả ly được.  Hãy tinh tấn, chớ có phóng dật theo nó, nghĩa là luôn luôn tinh tấn, ngăn chận, nhất là đối với nữ sắc.  Đó là điều tiên quyết quan trọng. Đừng có nhìn gương mặt người nữ, đừng có nhìn tướng tá, làn da người nữ, mắt, môi của người nữ.  Phật dạy:  Ta không thấy có một pháp nào lôi cuốn người nam bằng nụ cười, ánh mắt, làn da, hương thơm của người nữ.  Vậy muốn tập xả tâm này thì ta không được phóng tâm theo nó, đừng chạy theo nó. Ráng tập luyện xa lìa nó như vậy độ ba tháng sau quý vị sẽ thấy kết quả rất tuyệt diệu.  Nếu quý Thầy tu tập mà hôm sau gặp các bà, các cô mà nói chuyện huyên thuyên thì thà rằng trở về nhà cưới vợ cho xong, ngồi tu cho có hình thức làm gì, vô ích.

2/. Xả tâm vô lượng của báu, vàng bạc của cải thế gian:

Xả tâm vô lượng là xả tất cả (vô lượng) các pháp, mà tiền bạc châu báu là thứ khó xả nhất.  Bởi vậy phải tu tập, nhắc  đi, nhắc lại nhiều lần. Ta nghe chuyện ông Bàng Long Uẩn  đem hết của cải, vàng bạc  đổ hết xuống sông, nhưng có mấy ai làm được?  Có người cho rằng ông ta ngu quá, tại sao không cho người khác? Đó là suy nghĩ không đúng.  Ta đã biết nó là tai họa, ta cố chừa bỏ mà ta lại mang cái khổ, cái họa cho người khác hay sao?  Ông Bàng Long Uẩn thấu rõ điều ấy nên ông vứt bỏ, không nuối tiếc.

Ta phải ngồi kiết già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt, dùng pháp như lý tác ý câu này:  “Tiền bạc, của cải, châu báu là những thứ vật chất lôi cuốn ta rất mạnh, làm cho tâm ta ưa thích, say mê mà chạy theo, tạo ra biết bao điều tội ác. Người nông dân khó nhọc mới có hạt gạo cho ta ăn, lưỡi cày đã cắt đứt biết bao nhiêu côn trùng, rồi thuốc trừ sâu, diệt cỏ … Đó là cái nghề lương thiện mà còn mang nghiệp sát, huống hồ là những nghề không lương thiện, lường gạt, hãm hại nhau vì từng đồng bạc mà xâu xé giết hại nhau.”  Nên lấy câu trạch pháp này mà trau dồi nhiều lần để tâm ta thấm nhuần.

Tiền bạc của cải, châu báu thế gian là tên chủ độc tài, sai bảo ta làm bất cứ cái gì ta cũng mờ ám vâng theo, tạo ra rất nhiều tội lỗi. Vậy ta phải từ giã, xa lìa, ông chủ nàyđể thoát kiếp nô lệ.  Chính nó bắt ta hút thuốc, uống rượu, cờ bạc, tạo nhiều điều tội lỗi.

Những kẻ xa lìa tiền bạc, của cải, danh lợi mới là bậc chân tu. Khi họ cất chùa to là họ bị đồng tiền sai sử.  Ta phải ghi nhớ điều này: người tu sĩ không nô lệ cho ông chủ tiền bạc.  Nếu các tu sĩ mà còn cất giữ tiền bạc, tiếp nhận của cải vật chất thế gian càng nhiều thì càng ăn ngủ không yên (sợ vua tịch thu, chính phủ nghi ngờ, kẻ gian vào, trộm cướp hãm hại) mạng sống như chỉ mành treo chuông. Vì vậy ta phải xa lìa, dứt bỏ chúng. Phải ghi nhớ mãi câu pháp hướng, như lý tác ý để ta vĩnh viễn xa lìa vật chất chế gian, trau dồi tâm xả vô lượng.

Đó là xa lìa của cải, tài sản lớn.  Người tu thì không ham tài sản, của cải lớn, nhưng có người lại kẹt vào tài sản, của cải nhỏ như cái y, cái bát, cố cất giữ cho riêng mình.

Tùy theo  đặc tướng của mỗi người mà lựa chọn một trong hai pháp hướng kể trên.  Hoặc có thể dùng câu pháp hướng sau đây:  “Tài sản, của cải, vật chất chế gian là rắn độc, ung nhọt, truyền nhiễm. Có ngày ta sẽ bị rắn độc cắn, hoặc bị bệnh truyền nhiễm. Ta hãy xa lánh nó như bị bệnh cùi; đừng cất giữ, đừng tích trữ.”

Tóm lại, cần trau dồi, tu tập tâm này cho đến khi thấm nhuần mới mong viễn ly được tâm đắm nhiễm tiền bạc, châu báu thế gian.

3/. Xả vô lượng tâm danh:  Danh là tiếng khen, tiếng ca ngợi, tán thán, tốt đẹp, chứng ngộ, chứng đạo, được trao truyền quan chức, trao truyền tâm ấn, cấp bằng này, cấp bằng nọ, Đại Đức, Sư Bà, Sư Trưởng, Hòa Thượng, Thượng Tọa, Giám Đốc, Phó Giám Đốc, Viện Trưởng, Phó Viện Trưởng, Viện Chủ, Pháp Chủ, thiền đức, cao tăng, giới đức, thánh hiền, thần, thánh, tiên, Phật. Ai mà không muốn làm trụ trì?  Ai mà không mong làm Pháp Chủ, Viện Trưởng? Khi được danh thì người ta thích thú, nên bị thu hút chạy theo danh. Có người quá cuồng loạn, rồi thất vọng, tự tử. Có người công danh không thành, tình yêu bị phụ rẫy nên vào chùa đi tu. Có kẻ mơ được cái danh nhỏ như làm thầy thông, thầy ký, thầy giáo, cô giáo (còn hơn là làm đầy tớ bị người ta xem thường). Có người làm phó đội trưởng mơ làm lên đội trưởng; khi làm đại tá thì mặt cứ ngẩng lên trời, nghênh ngang chẳng coi ai ra gì. Thật ra những người có quyền có chức cũng là con người như ta.  Họ cũng có niềm vui, nỗi buồn, bệnh hoạn, khổ sở như bao nhiêu người khác. Vậy thì tại sao lại phải khúm núm trước kẻ quyền uy? Việc gì mà ta phải sợ hãi?

Có người đi làm từ thiện, kêu gọi người ta đóng góp, rồi cầm tờ giấy khen để khoe thiên hạ là mình đã cúng chùa bao nhiêu tiền, giúp cho bao nhiêu viện mồ côi, đã bao nhiêu lần tạc tượng,  đúc chuông, v..v…  Nhưng thử hỏi tâm họ có thật từ thiện không?  Hay là mở miệng ra thì mắng chửi người như tát nước? Vậy thì ta thương người ở chỗ nào?  Chạm tự ái họ là họ muốn giết ta. Có người thì đến đâu cũng có tiền hô hậu ủng, có năm, mười chiếc xe chạy theo hộ tống?

Tóm lại, danh là thứ dục nuôi lớn bản ngã con người.  Bản ngã lớn lên theo cái danh vọng, địa vị của người ta.  Hôm qua còn làm đầy tớ, ngày nay làm quan thì cái mặt cứ vênh váo. Như người đánh xe ngựa cho Thừa Tướng Yến Anh, anh ta cứ tưởng mình là Thừa Tướng, nên đi đâu cũng quát tháo, đánh đuổi người ta.  May mà anh có bà vợ biết điều, đã sửa đổi tâm tánh anh.  Bởi vậy ta phải thường xuyên như lý tác ý:  “Tâm con người ai mà không háo danh. Phải đánh cho nó gục xuống, đừng bao giờ để cho nó có cơ hội vùng lên.”   Đến phần thực hành, chúng ta cần phải lưu ý, tâm chuyên nhất cảnh.  Ta phải chọn một nơi thanh vắng, như bãi tha ma, sơn lâm, đống rơm, chòi lá, gò mả, đồng trống, gốc cây, gộp đá.  Sau khi ăn cơm xong, nghỉ ngơi độ hai giờ, ta ngồi thẳng lưng, như lý tác ý. Thí dụ:  “Danh là một dục lạc ảo giác, nuôi lớn ngã mạn, khiến tâm ta thường đau khổ, hay tranh cãi, lý luận, phiền não. Ta hãy xả bỏ, từ bỏ, chỉ biết có tu hành thanh tịnh tâm để ra khỏi sanh tử, luân hồi mà thôi.”

– “Danh là tên giặc hão huyền không có thật. Nó thường lôi cuốn tâm ta tỏ ra những hạnh xấu, hiu hiu, tự đắc, tự cao, tự đại, cống cao, ngã mạn. Ta hãy xem như không có thật. Ta chỉ là một con người như bao nhiêu người khác, một con người rất tầm thường mà thôi.”

– “Danh là một thứ dục lạc, vô hình, thu hút, cám dỗ ta rất mạnh, khiến cho ta thêm ngã mạn, cống cao, do  đó sanh ra ngũ triền cái (tham, sân, si, mạn, nghi).  Danh khiến cho triền miên  đau khổ, vậy ta phải cương quyết từ bỏ, viễn ly, xa lánh cái danh.”

– “Danh là một dục lạc có một ma lực vô hình, cám dỗ, lôi cuốn con người vào trong sanh tử luân hồi. Vậy ta từ phải bỏ, viễn ly, xa lánh cái danh dù bất cứ trường hợp nào.”

Người tu sĩ lãnh đạo tăng đoàn mà lãnh cái danh vào chùa là lãnh rắn độc, rắn sẽ cắn chết chúng tăng. Vậy người tu sĩ phải xa lánh cái danh, cái lợi để cứu lấy chúng tăng, và cứu lấy Phật giáo. Hàng ngày ta phải đặt niệm trước mặt, hướng tâm như thế, không khéo thì bản ngã ta nó đồ sộ thêm lên theo cái danh ấy. Người tu sĩ phải ghi nhớ là trong năm pháp dục lạc thì danh là hơn cả, khó trị vô cùng. Phải đập nhẹp nó, trừ khử nó. Đừng để cho nó vùng lên, và điều khiển ta.

4/. Xả tâm vô lượng tâm ăn: Làm người ai mà không thích ăn ngon. Xả cái ăn không có nghĩa là ta ăn muối, mà chính là xả cái tâm tham ăn. Nó là một dục lạc lớn trong đời ta. Nên nhớ ăn để mà sống, chớ không phải sống để mà ăn. Hãy quán cái ăn như uống thuốc, như trị bệnh ghẻ lở.

Ăn mà thấy ớn, thấy ngán, là bị dục lạc cám dỗ. Ăn mà thấy ưa thích cũng bị dục lạc cám dỗ. Chừng nào không ưa thích ăn ngon, không chê thức  ăn dở, không ngán, không ớn là không bị dục lạc ăn cám dỗ.

Tóm lại, ăn là thứ dục lạc ghê gớm (do thức ăn tiếp xúc với vị giác) tạo nên sự ưa thích, cám dỗ khó cưỡng lại.  Phàm phu không học thánh pháp và tùy pháp nên thường bị ngã gục trong mặt trận cám dỗ ăn uống này.  Chỉ có bậc tu hành, giữ đúng giới hạnh mới thoát ra được. Thí dụ lâu ngày không ăn đường thèm quá, thấy ai mời một ly sữa là phóng tới lấy ngay. Thèm chua, nghe người ta tả trái me chua cũng đủ chảy nước miếng, huống hồ là nghe người ta ăn, nhai nhóp nhép.

Muốn không thèm ăn thì phải thường như lý tác ý để cho thành tựu. Bị cám dỗ bởi cái kẹo, ly nước chanh, hay một viên sinh tố (vitamin) C, hoặc viên thuốc có dạng kẹo (kẹo ho) còn mang tội ăn phi thời, huống hồ là ăn các thức ăn khác. Người tu hành phải diệt trừ cái tâm tham ăn, làm chủ cái ăn, không ăn phi thời. Tu thiền mà ăn một ngày ba bữa thì chừng nào mới làm chủ được sống chết?  Người nào còn chạy theo dục lạc ăn, ăn phi thời là phi phạm hạnh, là ngạ quỉ, quỉ sa tăng. Phần đông các tu sĩ ngày nay, từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc đều bị quỷ dục lạc ăn cám dỗ và lôi cuốn xuống địa ngục. Không khắc phục được ma dục ăn thì làm gì tu được chánh thiền, chánh định!  Tu sai một hào ly là cách xa đạo giải thoát một ngàn dặm. Đi tìm đạo giải thoát mà tự trói mình trong ăn uống thì giải thoát ở chỗ nào? Người ở thế gian bị lôi cuốn vào cái ăn đã đành, người tu sĩ không giải thoát được cái ăn không thấy xấu hổ sao?  Như vậy thì làm sao giải thoát sinh tử? Có người nhập thiền định không ăn uống từ bảy ngày cho đến một tháng mà không chết (sau đó phục hồi dần cơ thể, sinh hoạt lại bình thường). Nhập thiền định một ngày là làm chủ sống chết một ngày, nhập được một tháng là làm chủ sống chết được một tháng.

Người tu làm chủ sanh, già, bệnh, chết, ưu bi, sầu khổ là chỗ nào?  Đó là chỗ lìa được ba cái dục danh, sắc, lợi nói trên.  Ở đây, lìa cái ăn tức là lìa sống chết.  Người tu sĩ phải từ bỏ tài sản nhỏ, tài sản lớn, bà con quyến thuộc nhỏ, bà con quyến thuộc lớn, từ bỏ danh lợi thế gian, quyền tước lớn, nhỏ,  để sống thiểu dục, tri túc (ba y một bát).  Đó là sống như lời Phật dạy:  Sanh  đã tận, phạm hạnh  đã thành thì mới giải thoát được sanh, già, bệnh, chết, ưu bi, sầu khổ, chấm dứt luân hồi.

4/. Xả vô lượng tâm ngủ:   Ngủ là một trong năm thứ ngũ dục lạc, khiến cho ta thích thú, ham ngủ. Ngủ cũng là trạng thái ngu si, mê muội, bần thần, dã dượi, lười biếng.  Cho nên người lười biếng là người ham ngủ.  Ăn chơi, trác táng, cờ bạc, rượu chè, thức khuya, làm việc quá nhiều cũng sanh ra buồn ngủ.

Trong việc tu tập thiền định thì ngủ có nhiều cấp độ:

Hôn trầm:  Ngồi một lúc là gục xuống, rồi lại ngẩng lên.

Thùy miên:  Cúi đầu xuống, quẹo cổ qua một bên và ngủ thiếp đi.

Hôn tịch:  Lúc mê, lúc tỉnh, mơ mơ, màng màng.  Thí dụ: Ý tu tập đếm hơi thở mà lúc nhớ, lúc quên.

Vô ký:  Chợt quên.  Khi quên thì tâm không còn tỉnh giác, vọng niệm liền khởi.

Ngoan không:  Vô ký kéo dài là ngoan không, còn gọi là không ngơ. Ngoan không là nguyên nhân phát sinh ra trí tuệ tưởng giải.

Phật dạy người mới tu phải tu Chánh Niệm Tỉnh Thức, kinh hành nhiều, (làm cho sức tỉnh thật mạnh), trên thân quán thân, theo hành tướng ngoại để sức quán cho vững, và không rơi vào hôn trầm, thùy miên, hôn tịch, vô ký. Không lo tu tập tỉnh thức mà lo ngồi kiết già, quán hơi thở, đặt đề mục, ngồi quá lâu, cơ thể mỏi mệt, thì hành giả sẽ thiếp dần trong trạng thái mỏi mệt, mất khả năng suy tư, làm cho ngu si, tu hành lạc nẻo mà không hay biết. Cho nên tất cả những loại ngủ này đều gọi chung là si thiền, si định.  Người tu theo tà thiền, định tưởng thường rơi vài năm loại ngủ này, không sao tránh khỏi.

NGUYÊN NHÂN CỦA CHỨNG BUỒN NGỦ

Người tu hành muốn vượt qua năm thứ si thiền này thì phải hết sức tận dụng khả năng để xả bỏ nó. Nếu thấy mỏi mệt mà lo đi ngủ ngay là sai, nếu ngồi thiền mà rơi vào trạng thái ngoan không là tu sai pháp.  Phải phá nó đi, đừng cho nó nhập vào thân ta.  Vì ngủ cũng có vô lượng hình thức và trạng thái ngủ khác nhau, nên cũng phải có vô lượng pháp để xả ngủ.

Đi tàu, đi xe bị say sóng, gió, cảm thấy ngây ngây, như ngủ.

Bị cảm gió, thân lừ đừ, nóng, lạnh, v..v…  và tất cả những bệnh khác đều có thể làm

cho cơ thể uể oải khó chịu.

Cơ thể lờ đờ, tu sai cũng buồn ngủ.  Thí dụ khả năng ta tu tập quán sổ tức chỉ có thể đếm độ 1000 hơi, mà bây giờ ta ráng lên đến 1500 hay 2000 hơi, quá sức của nó thì làm sao không buồn ngủ?

Khi trụ tâm không đúng chỗ cũng buồn ngủ.

Làm việc quá sức, mệt mỏi cũng buồn ngủ.

Sống cô độc, cờ bạc, rượu chè sanh ra buồn ngủ.

Trai gái dục lạc quá độ cũng sanh ra buồn ngủ.

Vậy muốn xả vô lượng tâm ngủ thì phải làm sao?  Muốn xả vô lượng tâm ngủ phải tùy theo tình trạng cơ thể mà tu tập hoặc chữa trị.  Phải hết sức thận trọng trong việc trau dồi tâm này:

1/. Phải biết buồn ngủ trong thân là loại nào.

2/. Tùy theo bệnh trạng buồn ngủ mà dùng thuốc thang để trị.

3/. Cương quyết, mạnh mẽ dứt bỏ những thói quen xấu, những trò chơi không lành mạnh, có hại cho cơ thể (cờ bạc, rượu chè, vui chơi thâu đêm sáng hôm sau mệt mỏi ngủ gà ngủ gật).

4/. Phải rèn luyện nghị lực, chiến thắng những trạng thái lười biếng.

5/. Lấy nước súc miệng, rửa mặt, hoặc tắm nước lạnh. Phải có biện pháp mạnh để đối tri chứng lười biếng, ham ngủ. (Lười biếng phải lấy roi mà quất cho đau, lấy dao mà rạch, lấy muối mà xát vào vết thương).

6/. Ngồi chỗ nguy hiểm để cho tâm sợ chết mà không dám buồn ngủ (ngồi trên chảng ba cây cao, ngồi trên tảng đá cheo leo, sơ sẩy là rớt xuống vực sâu).

7/. Đọc kinh sách, tìm hiểu nghĩa lý trong kinh cũng là một cách dứt phá buồn ngủ.

8/. Ngồi quán xét, tìm xem chứng buồn ngủ từ đâu mà đến, khiến tay chân ta bần thần lười biếng như thế này. Quán xét một lúc thì cơn buồn ngủ tan đi.

9/. Xem sao trên trời (nếu người thích thiên văn), tìm lý do diễn biến của vũ trụ.

10/. Đem một số truyện hình ra xem.

11/. Đi kinh hành cho nhiều sẽ không buồn ngủ (tu tập tỉnh thức).

12/. Tu vô lậu, quán xét vô thường, khổ, không, vô ngã trong thân ta (tu tập Định Vô Lậu, Chánh Niệm Tỉnh Thức).

13/. Đi kinh hành trau dồi lòng từ tâm của mình dưới bước chân đi, tránh giẫm đạp chúng sanh.  Thí dụ ban đêm đi kinh hành ta không nhìn thấy chúng sanh, khó mà tránh được.  Vậy ta phải nhắc: “Ban đêm tôi đi kinh hành, không thấy chúng sanh. Xin tránh cho tôi đi.”    Hoặc là câu  “Tất cả các chúng sanh ở dưới chân tôi, hãy tránh cho tôi đi.”  Và cảm ứng đạo giao nan tư nghì, khi chúng ta đi đến đâu thì các chúng sanh sẽ tránh cho chúng ta đi. Như vậy ta vừa trau dồi tâm từ, vừa đối trị chứng buồn ngủ lúc đêm khuya thanh vắng.

14/. Dùng như lý tác ý:  “Cái ngủ này vốn không có trong thân tứ đại này, chỉ do ngu si, mê muội, lười biếng, thiếu tinh tấn nên mới thọ sanh.”  Ngồi kiết già lưng thẳng, quán chiếu để thấy cái ngủ này do đâu mà có.  Khi tác ý thì phải như truyền lệnh, dùng hết tâm lực của tinh thần, mạnh dạn làm cho cơn ngủ mau lui bước.  Khi đối trị với buồn ngủ thì phải sáng suốt thông minh, nếu không thì chứng buồn ngủ càng tăng, và ta càng vất vả hơn khi chống trả lại nó.

Tu hành theo đạo Phật là phải siêng năng, bền chí, kinh hành nhiều (Đức Phật ngày xưa  đã kinh hành rất nhiều về  đêm, và Ngài ngủ rất ít).

Luôn trau dồi tâm ngủ dưới chân mình bằng pháp hướng tâm như lý tác ý: “Buồn ngủ, phải lui đi! Lười biếng, phải lui đi!”.

Đó là những câu ám thị ngắn mà ta áp dụng khi buồn ngủ và ta đi kinh hành thì sẽ rất tỉnh táo:  “Cơn mơ mơ, say say, hãy lui đi!  Thân tâm phải tỉnh táo.”  Nhắc nhiều lần như vậy trong khi đi, giống như ra lệnh, một lúc sau thì ta hết hôn trầm, thùy miên.

Bấy lâu nay chúng ta khổ sở vì chứng hôn trầm mà không có cách, không có người hướng dẫn để tu tập. Trong giáo án này Thầy đưa kinh nghiệm của bản thân Thầy để giúp cho quý thầy và các Phật tử nương vào đó làm pháp mà tu tập.  Nếu tu không có kết quả là tu tập sai, dùng pháp hướng sai. Nếu theo đúng pháp hành của nó quý vị sẽ thấy hiệu quả tức thì, tất cả hôn trầm, thùy miên đều lui dần, tâm của quý vị sẽ được thanh thản, an lạc, rất tỉnh táo.

Sau đây chúng ta thử xét xem chứng hôn trầm do đâu mà có, và làm thế nào để phá hôn trầm.

Trích từ sách TRƯỞNG LÃO THÍCH THÔNG LẠC. CẨM NANG CHO NGƯỜI TU HỌC TẠI TU VIỆN CHƠN NHƯ.

Nguồn:

www.chonlac.org Email: chonnhu.info@gmail.com

Hỏi: Kính thưa Thầy, nhân dân trong nước ở các vùng bị thiên tai, dịch họa, Đảng và Nhà nước kêu gọi nhân dân ủng hộ, cứu trợ thì rất là khó khăn ít người hưởng ứng, còn nói đến cúng dường trai Tăng thì họ giành nhau để cúng. Thưa Thầy như vậy có đúng không?

Đáp:

Hầu hết, tín đồ Phật tử bị tà sư ngoại đạo lừa đảo, lường gạt bằng cách kêu gọi tín đồ nên cúng dường trai Tăng sẽ được nhiều phước báo, để cha mẹ được siêu sanh Tịnh Độ. Trên đời mọi người ai cũng mong được phước báo, hạnh phúc an vui, nên khi nghe quý Thầy dạy: “Cúng dường trai Tăng sẽ được phước báo lớn, cha mẹ chết được vãng sanh Cực Lạc, thì ai mà không cúng dường, không trai tăng”. Nhưng Phật tử đã lầm lạc, vì đụng ông Thầy nào cũng đầu tròn áo vuông, đắp áo cà sa, tay lần chuỗi là cúng dường trai Tăng tứ sự. Thật sự Phật tử đã cúng dường cho những ma vương, vì những người này không phải là kẻ tu hành, mà là những người kinh doanh tôn giáo buôn thần, bán Thánh.

Khi vua Ba Tư Nặc hỏi: “Kính bạch Thế Tôn, chúng con là hàng cư sĩ cúng dường bố thí như thế nào đúng chánh pháp để được phước báo lớn?”

Đức Phật đáp:Cúng dường bố thí cho cá nhân hay tập thể phải thanh tịnh thì mới có lợi ích phước báo lớn”. Cá nhân thanh tịnh, tức là cá nhân phải có đạo đức, là một tu sĩ Phật giáo thì giới luật phải được nghiêm chỉnh, không vi phạm, không bẻ vụn giới luật. Tập thể thanh tịnh, tức là phải sống hòa hợp, phải giới luật nghiêm chỉnh. Cúng dường trai  Tăng  như thế mới có phước báo lớn, còn cá nhân (tu sĩ) và tập thể (Tăng đoàn) không thanh tịnh, không đoàn kết, không đạo đức, sống phá giới và phạm giới thì cúng dường trai Tăng không được phước báo mà còn tạo thêm tội là vì tiếp tay cho ma vương phá hoại Phật giáo. Cho nên quý Phật tử cảnh giác, đừng nghe nói cúng dường trai Tăng là có phước báo, là được vãng sanh, mà không lưu ý đến đạo đức của các vị Thầy đó.

Cúng dường trai Tăng không đúng đối tượng, đã không được phước mà còn mang thêm tội lỗi. Chi bằng làm việc nghĩa, từ thiện giúp người bất hạnh khi gặp thủy tai, hỏa hoạn, còn được phước báo hơn nhiều và còn thực hiện được tình người, tình yêu nhân loại, tình yêu Tổ quốc quê hương. Làm những việc nghĩa, công tác từ thiện còn được phước báo gấp trăm ngàn lần đem cúng dường trai Tăng cho các Thầy tà giáo ngoại đạo, tu hành bằng hình thức, buôn Phật bán pháp, tạo danh, tạo lợi để sống một đời “Đế vương”. Trong khi quý Phật tử làm ra đồng bạc rất khó để nuôi  những  người  ngồi trong mát ăn bát vàng.

Quý Phật tử nên đề cao cảnh giác! Cúng dường là nên cúng dường cho những bậc chân tu giới đức, còn không thì quý vị dành ra một ít tiền và thực phẩm giúp những người bất hạnh trong xã hội thì còn được phước báo lớn. Đó là hành động thiện của nhân quả, nó sẽ chuyển quả khổ bất hạnh của quý vị và từ đó cuộc sống của quý vị sẽ được an vui hạnh phúc, làm ăn càng ngày càng hưng thịnh, cơm ăn, áo mặc không thiếu, không có gặp thủy tai hỏa hoạn hoặc tai nạn hiểm nghèo.

Ở đời, người ta rất khôn khéo, mượn chiếc áo tu sĩ để được học hành tới nơi tới chốn, tạo danh tạo lợi dễ dàng hơn ở người đời nhiều. Khi đỗ bằng tiến sĩ, được tấn phong Thượng Tọa, Hòa Thượng trong hàng giáo phẩm thì quý Phật tử tưởng họ là bậc chân tu ư! Họ chỉ cần viết, soạn 5, 10 cuốn kinh sách bằng tưởng giải, là nổi danh lớn và có thể lường gạt Phật tử dễ dàng bằng mọi cách. Cho nên, cúng dường trai Tăng cho các vị ấy thì quý Phật tử tranh nhau mà cúng, còn đi làm việc từ thiện do Nhà nước kêu gọi hết sức thì quý vị làm ngơ không đếm xỉa đến cảnh màn trời chiếu đất của bao nhiêu người bất hạnh.

Những việc làm này quý vị có thấy sai không, quý vị đừng lầm tưởng Hòa Thượng, Thượng Tọa là Phật. Phật dạy cúng dường cho người thanh tịnh chứ không phải cúng dường cho người có chức tước. Một chú Sa Di mới 8 tuổi mà đã là bậc Trưởng Lão, vì đã tu tập thanh tịnh. Còn một vị tỳ kheo 80 tuổi mà giới luật không thanh tịnh, dù thông suốt Tam tạng kinh điển vẫn không được gọi là Trưởng Lão. Còn thời chúng ta, tu sĩ giới luật tu hành chẳng ra gì, chỉ có cấp bằng tiến sĩ Phật học, là Thượng Tọa, Hòa Thượng, chùa to tháp lớn, Phật tử cúng dường tiền bạc cả khối, giầu hơn triệu phú, tỷ phú. Phật tử thì ganh nhau cúng dường. Thật là thời đại khoa học nhưng đạo đức đang xuống dốc.

(Trích từ Trưởng Lão Thích Thông Lạc. Đường Về Xứ Phật. Nxb Tôn Giáo, 2006)

85

Món Ăn

LỜI PHẬT DẠY

“1/ Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Minh giải thoát? Bảy Giác Chi, cần phải trả lời như vậy.

2/ Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Bảy Giác Chi? Bốn Niệm Xứ, cần phải trả lời như vậy.

3/ Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Bốn Niệm Xứ? Ba Thiện Hành, cần phải trả lời như vậy.

4/ Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Ba Thiện Hành? Các Căn được chế ngự, cần phải trả lời như vậy.

5/ Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho các Căn được chế ngự? Chánh Niệm Tỉnh Giác, cần phải trả lời như vậy.

6/ Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Chánh Niệm Tỉnh Giác? Như Lý Tác Ý, cần phải trả lời như vậy.

7/ Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Như Lý Tác Ý? Lòng tin, cần phải trả lời như vậy.

8/ Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho lòng tin? Nghe Diệu pháp, cần phải trả lời như vậy.

9/ Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho nghe Diệu pháp? Thân cận với bậc Chân nhân, cần phải trả lời như vậy.”

CHÚ GIẢI:

Mục đích cuộc đời tu hành của chúng ta là phải đạt cho được Tam Minh. Chính trí tuệ Tam Minh mới giúp chúng ta diệt sạch lậu hoặc. Nhờ đó chúng ta mới chứng quả A La Hán, chấm dứt tái sanh luân hồi. Vậy, pháp nào để chúng ta tu tập thực hiện được trí tuệ Tam Minh? Bảy năng lực Giác Chi các bạn ạ! Tu tập Tam Minh mà không có Bảy Giác Chi thì không làm sao đạt được trí tuệ Tam Minh. Cho nên trong Kinh Tăng Chi Đức Phật đã xác định: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Minh giải thoát (Tam Minh)? Bảy Giác Chi, cần phải trả lời như vậy” Như vậy, rõ ràng Bảy Giác Chi là pháp môn tu tập để đạt được trí tuệ Tam Minh (Minh giải thoát).

Từ xưa đến nay, kinh sách Đại Thừa và Thiền Đông Độ thường nói về Tam Minh nhưng chẳng biết và chẳng có pháp môn tu tập để đạt Tam Minh. Chỉ có kinh sách Nguyên Thủy đã xác định rõ ràng về pháp môn tu tập Tam Minh. Nhưng ở đây Đức Phật dùng lời nói đơn giản, ngắn gọn, đầy đủ ý nghĩa hành trì tuyệt vời “Thức ăn cho Minh giải thoát (Tam Minh) là Bảy Giác Chi” Bảy Giác Chi là thức ăn của Tam Minh, nghĩa là muốn tu tập Tam Minh thì hằng ngày phải tu tập Bảy Giác Chi như chúng ta ăn cơm hằng ngày vậy. Lời dạy này các bạn có thể nào hiểu không? Nó cụ thể, thực tế, đơn giản đầy đủ ý nghĩa. Phải không các bạn?

Từ đây, muốn tu tập có trí tuệ Tam Minh, chứng quả A La Hán, thì các bạn biết ngay là phải sử dụng bảy năng lực của Giác Chi thì mới tu tập được Tam Minh (Minh giải thoát). Vậy, pháp môn nào tu tập để có được Bảy năng lực Giác Chi? Thưa các ban! Khi chúng tôi nói đến bảy năng lực của Giác Chi thì các bạn bảo rằng: Phật chỉ dạy có bảy pháp Giác Chi, chứ chưa bao giờ nghe nói đến bảy năng lực Giác Chi. Vậy, bảy năng lực Giác Chi này ở đâu mà ra?

Xin thưa các bạn! Con đường tu theo Đạo Phật, các bạn nên hiểu, nó có ba bậc và tám lớp tu tập, mỗi lớp tu tập đều có bài học và bài thực hành tu tập khác nhau từ thấp lên cao. Do pháp môn có thứ bậc thấp cao như vậy, nên đoạn kinh trên đây đã xác định cho chúng ta thấy lấy kết qủa của pháp này tu tập cho pháp cao hơn, lấy kết quả của pháp cao hơn tu tập cho pháp cao hơn nữa. Tu tập phải có kết quả ngay liền, vì pháp này là món ăn cho pháp kia “Cái gì là thức ăn cho minh giải thoát (Tam Minh)? Bảy Giác Chi, cần phải trả lời như vậy”

Nếu chưa có Bảy Giác Chi thì không thể nào nhập Tứ Thánh Định và thực hiện Tam Minh (Minh giải thoát) được. Đọc đoạn kinh này chúng ta xét qua kinh sách Đại Thừa và Thiền Đông Độ thì chúng ta biết họ tu tập sẽ không bao giờ thực hiện Tam Minh được. Tại sao vậy? Vì đường lối tu tập của Đại Thừa và Thiền Tông rất mơ hồ và trừu tượng, không có pháp hành thực hiện Tam Minh. Không có Tam Minh thì làm sao có tâm vô lậu được? Không có tâm vô lậu thì làm sao có giải thoát, chấm dứt luân hồi được? Bởi vậy, Pháp hành thực hiện được Tam Minh là món ăn của Tam Minh. Món ăn, ở đây chúng ta phải hiểu nghĩa là siêng năng tinh cần tu tập hằng ngày không biếng trễ với Bảy Giác Chi này.

*****

Trên đây Bảy Giác Chi là món ăn của Tam Minh. Vậy, món ăn của Bảy Giác Chi là gì? Đức Phật đã dạy như vầy: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Bảy Giác Chi? Bốn Niệm Xứ, cần phải trả lời như vậy”. Món ăn của Bảy Giác Chi là Tứ Niệm Xứ, đúng như vậy. Trong Tứ Niệm Xứ có ba giai đoạn tu tập:

– Giai đoạn một: Tứ Chánh Cần trên Tứ Niệm Xứ.
– Giai đoạn hai: Tứ Niệm Xứ trên Tứ Niệm Xứ.
– Giai đoạn ba: Thân Hành Niệm trên Tứ Niệm Xứ.

Giai đoạn tu tập cuối cùng của Tứ Niệm Xứ là pháp Thân Hành Niệm, chỉ có pháp Thân Hành Niệm thì Bảy Giác Chi mới xuất hiện. Nói cho rõ nghĩa hơn là khi tu tập Thân Hành Niệm thì có mười công đức xuất hiện tức là mười thần lực, còn gọi là mười Như Lai lực. Nhờ những lực này mà nhập các định và thực hiện Tam Minh. Cho nên đoạn kinh trên Đức Phật dạy: “Cái gì là thức ăn cho minh giải thoát? Bảy Giác Chi, cần phải trả lời như vậy”.

Đó là lời dạy về pháp môn tu tập của Tam Minh. Còn ở đây, Đức Phật không xác định Thân Hành Niệm là thức ăn của Bảy Giác Chi mà lại xác định Tứ Niệm Xứ. Tại sao vậy? Thưa các bạn! Bởi vì pháp Thân Hành Niệm là pháp môn tu tập ở giai đoạn ba, tức là giai đoạn cuối cùng của Tứ Niệm Xứ. Không thể tu tắt bỏ giai đoạn I, II được. Tứ Niệm Xứ có ba giai đoạn tu tập như chúng tôi đã kể ở trên; có tu tập đúng ba giai đoạn thì Bảy Giác Chi mới xuất hiện, có nghĩa là tuần tự tu tập pháp nào trước pháp nào sau cho đến pháp Thân Hành Niệm là pháp môn cuối cùng của Tứ Niệm Xứ. Cho nên Đức Phật dạy: Tứ Niệm Xứ là thức ăn của Bảy Giác Chi. Nếu không tu tập Tứ Niệm Xứ thì không bao giờ có Bảy Giác Chi.

Đến đây các bạn cần lưu ý: Người tu theo Phật Giáo mà không đạt Lậu Tận Minh thì không thể nào chấm dứt sanh tử, luân hồi. Ngoài Lậu Tận Minh ra thì không có pháp nào tu tập chấm dứt sanh tử luân hồi được, bởi vì con đường tu tập của Phật Giáo đã xác định rõ ràng từng pháp môn, từ pháp thấp đến pháp cao; pháp thấp là món ăn cho pháp cao, có nghĩa là lấy kết quả của pháp thấp mà tu tập pháp cao hơn.

*****

Thức ăn của Bảy Giác Chi là Tứ Niệm Xứ. Vậy, thức ăn của Tứ Niệm Xứ là gì? Chúng ta hãy lắng nghe Đức Phật trả lời: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Bốn Niệm Xứ? Ba Thiện Hành, cần phải trả lời như vậy”. Thức ăn của Tứ Niệm Xứ là Ba Thiện Hành. Vậy Ba Thiện Hành là gì? Ba Thiện Hành là ba nơi làm điều lành. Ba nơi làm điều lành đó là nơi nào?

1- Thân Thiện Hành
2- Khẩu Thiện Hành
3- Ý thiện Hành

Thân Thiện Hành nghĩa là gì? Và Thân Thiện Hành tu tập như thế nào? Thân Thiện Hành, có nghĩa là tất cả hành động nơi thân, không làm khổ mình không làm khổ người và không làm khổ tất cả chúng sanh. Thân Thiện Hành, hằng ngày phải tu tập ngăn ác diệt ác pháp, sinh thiện tăng trưởng thiện pháp. Tu như vậy là tu pháp môn gì? Tu như vậy là tu tập pháp môn Tứ Chánh Cần.

Tứ Chánh Cần phải tu tập ra hành động như thế nào? Muốn tu tập Tứ Chánh Cần ra hành động thì phải tu tập Định Niệm Hơi Thở, Định Chánh Niệm Tỉnh Giác, Định Sáng Suốt và Định Vô Lậu. Tất cả các pháp trên đây là những pháp tu tập của “Thân Thiện Hành”. Xin các bạn lưu ý: Đây là thân hành tu tập Tứ Chánh Cần, nên gọi là Thân Thiện hành.

Khẩu Thiện Hành là gì? Khẩu Thiện Hành thì phải tu tập pháp nào? Khẩu Thiện Hành là tất cả những hành động của miệng không làm khổ mình, không khổ người và khổ tất cả chúng sanh. Muốn tu tập Khẩu Thiện Hành thì phải tu tập Tứ Chánh Cần. Hằng ngày nên giữ gìn lời ăn tiếng nói. Không nói thì im lặng như Thánh, nhưng khi nói ra thì phải nói ra lời thiện, không được nói dối, không được nói thêu dệt, không được nói lời hung dữ, nói lật ngược, nói xấu người khác, v.v…

Người ăn uống phi thời không phải là Khẩu Thiện Hành. Ăn uống đúng giờ giấc, ăn uống có tiết độ, ăn uống có lòng từ bi, không ăn uống thực phẩm động vật, vì thực phẩm động vật là có sự đau khổ của loài động vật. Người ăn uống như vậy là người giữ gìn Khẩu Thiện Hành. Xin các bạn lưu ý về Khẩu Thiện Hành của mình và cố gắng khắc phục tâm mình để giữ gìn trọn vẹn như lời dạy của Đức Phật: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Bốn Niệm Xứ? Ba Thiện Hành, cần phải trả lời như vậy”, thì khẩu hành mới được thanh tịnh.

*****

Như lời Phật đã dạy: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Ba Thiện Hành? Các căn được chế ngự, cần phải trả lời như vậy”. Các căn được chế ngự là gì? Với pháp môn nào để chế ngự được các căn? Trong thân chúng ta có sáu căn:

1. Nhãn căn
2. Nhĩ căn
3. Tỷ căn
4. Thiệt căn
5. Thân căn
6. Ý căn

Chế ngự nghĩa như thế nào? Chế ngự nghĩa là làm cho nó giảm bớt, không còn tăng trưởng, không còn phát triển, không còn dính mắc với sáu trần, làm cho nó không còn dính mắc sáu trần nữa, không làm theo ý muốn. Trước khi làm theo ý muốn thì phải quán sát nên làm hay không nên làm, nên làm là làm không có dục xen vào, có dục xen vào nhất định không làm.

Ví dụ 1: Chưa đến giờ ăn mà bụng đói muốn ăn, thì nhất định không ăn, chờ đúng giờ mới ăn. Đó là chế ngự ăn uống. Người thường chế ngự ăn uống như vậy tức là chế ngự tâm dục của mình. Chế ngự tâm dục của mình, đó là làm chủ tâm mình. Thường tu tập làm chủ tâm mình như vậy là thực hiện Khẩu Thiện Hành.

Ý Thiện Hành là gì? Ý Thiện Hành là hành động thiện của ý. Hành động thiện của ý là gì? Hành động thiện của ý là Chánh Tư Duy. Chánh Tư Duy là sự suy tư nghĩ tưởng không làm khổ mình, khổ người và khổ tất cả muôn loài vật. Ý Hành Thiện có năm:

1. Ý không khởi niệm tham
2. Ý không khởi niệm sân
3. Ý không khởi niệm si
4. Ý không khởi niệm mạn
5. Ý không khởi niệm nghi

Nếu ý khởi ra niệm mà có tham, sân, si, mạn, nghi thì không thể nào gọi là Ý Thiện Hành. Muốn cho ý thiện hành hiện tiền thì hằng ngày chúng ta phòng hộ sáu căn. Vậy phòng hộ sáu căn như thế nào? Phòng hộ sáu căn là giữ gìn mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý. Nói như vậy các bạn rất khó hiểu, chúng tôi sẽ cho một ví dụ giúp các bạn hiểu một cách dễ dàng.

Ví dụ 2: Trong giờ đang tu tập Tứ Niệm Xứ thấy nhà dơ, khi xả thiền xong lấy chổi quét dọn cho sạch, thay vì giờ ấy là giờ xả nghỉ thư giãn thì chúng ta lại đi quét dọn, quét dọn là làm theo ý dục của mình; làm theo ý dục của mình tức là không phòng hộ ý căn. Không phòng hộ ý căn tức là không chế ngự tâm dục. Không chế ngự tâm dục tức là không ly dục ly ác pháp, mà mục đích tu hành của Phật là phải ly dục ly ác pháp để đạt cho được tâm bất động.

Cho nên các căn được chế ngự là món ăn của Ba Thiện Hành. Vậy, muốn chế ngự được các căn phải chế ngự bằng cách nào? Muốn chế ngự được các căn thì các bạn nên tu tập tỉnh thức trong thân hành nội và thân hành ngoại như: Chánh niệm tỉnh giác trong khi đi kinh hành (Thân hành niệm ngoại), Chánh niệm tỉnh giác trong từng hơi thở (Định Niệm Hơi Thở), Chánh niệm tỉnh giác trong từng tâm niệm (Định Vô Lậu); Chánh niệm tỉnh giác trong thư giãn (Định Sáng Suốt); Chánh Niệm tỉnh giác trong Tứ Niệm Xứ. Hằng ngày tu tập được tỉnh thức như vậy, nên Đức Phật gọi Chánh Niệm Tỉnh Giác là thức ăn cho các căn được chế ngự.

Xin các bạn đọc lại lời Phật đã dạy: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho các căn được chế ngự? Chánh Niệm Tỉnh Giác, cần phải trả lời như vậy”. Nếu các bạn không tu tập Chánh Niệm tỉnh Giác trên đây thì khó mà chế ngự được các căn. Không chế ngự được các căn thì không làm sao các bạn ly dục ly ác pháp được. Xin các bạn hiểu cho, trên đây là lời dạy của Đức Phật, chứ chúng tôi hoàn toàn không có chế pháp môn nào mới cả, và cũng không có những kiến giải bằng tưởng để lừa đảo các bạn mà đây do chúng tôi hiểu thấu nghĩa lý trong kinh bằng kinh nghiệm tu hành của chính mình.

Chánh Niệm Tỉnh Giác là thức ăn cho các căn được chế ngự. Vậy thức ăn cho Chánh Niệm Tỉnh Giác là gì? Như chúng tôi đã từng dạy các bạn Pháp Hướng Tâm tức là pháp dẫn tâm, cho nên trên bia đá tại tu viện Chơn Như chúng tôi có khắc trên bia như: “Dẫn tâm vào đạo, chứ đừng dẫn đạo vào tâm”. Trong kinh Pháp Cú Đức Phật cũng dạy: “Tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ, tâm tạo tác…”.

Vậy pháp hướng tâm là gì? Pháp hướng tâm là pháp Như Lý Tác Ý. Xin các bạn lưu ý nó là một pháp môn rất quan trọng trong sự tu tập theo Phật Giáo, nhờ nó mà chúng ta ngăn và diệt được ác pháp; nhờ nó mà phòng hộ được sáu căn; nhờ nó mà chúng ta giữ gìn tâm tương ưng với Niết Bàn; nhờ nó mà tâm ta được định tỉnh nhu nhuyến dễ sử dụng; nhờ nó mà ta có được 7 năng lực Giác Chi, mười công đức thần lực Như Lai. Cho nên, dù các bạn tu tập pháp môn nào mà thiếu pháp dẫn tâm này thì các bạn khó thành công trên đường tu tập cho đến nơi đến chốn hoàn toàn. Vì thế Đức Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Chánh Niệm Tỉnh Giác? Như Lý Tác Ý, cần phải trả lời như vậy”. Đó là một xác định chắc chắn, nếu ai muốn có chánh niệm tỉnh Giác thì pháp như lý tác ý là món ăn hằng ngày của Chánh Niệm Tỉnh Giác.

Thưa các bạn, chúng tôi tu tập được làm chủ sự sống chết và chấm dứt luân hồi đều nhờ pháp Như Lý Tác Ý này. Nếu không có pháp này chắc chắn chúng tôi dù có tu hành như thế nào cũng chỉ uổng một đời người mà thôi. Mong các bạn lưu ý để không phí một đời tu của mình.

*****

Pháp môn như Lý Tác Ý là một pháp môn tuyệt vời trong Đạo Phật, nhưng nó phải bền chí tu tập thì mới có hiệu quả. Nếu không bền chí thì chỉ tu tập một thời gian là bỏ cuộc. Muốn có sự bền chí tu tập thì phải có lòng tin nơi Phật, Pháp, Tăng và Giới. Có lòng tin như vậy thì mới thực hiện được pháp Như Lý Tác Ý. Nên Đức Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho Như Lý Tác Ý? Lòng tin, cần phải trả lời như vậy”. Đúng vậy, các bạn! Chỉ có lòng tin mới có sự bền chí hằng ngày tu tập, mới có sự chuyện cần tinh tấn tác ý. Những gì chưa làm được phải làm cho được, những gì bất an phải làm cho an ổn, những gì ác pháp phải làm cho thiện pháp, những gì còn khổ đau phải làm cho hết đau khổ, những gì chưa chứng phải làm cho chứng, những gì chưa đạt phải làm cho đạt, những gì chưa ngộ phải làm cho ngộ. Bền chí, kiên trì, gan dạ làm cho bằng được, đó là lòng tin. Còn ngược lại là thiếu lòng tin.

Những người không có lòng tin nơi Phật, nơi Pháp, nơi Tăng, nơi Giới, nơi mình, thì dù có pháp môn gì hay tuyệt đi nữa, họ cũng bỏ cuộc, họ cũng thất bại, họ cũng chẳng thành công. Dù có muôn ngàn người tu hành mà không có lòng tin, thì cũng đều bỏ cuộc, có nghĩa là tu hành chẳng tới đâu cả. Cho nên, khi bước chân vào Đạo Phật chúng ta phải nghiên cứu, tìm hiểu Đạo Phật cho thấu suốt. Một khi đã thấu suốt rồi thì mới có lòng tin, lòng tin bất tuyệt không bao giờ thay đổi. Nhưng muốn lòng tin ấy mãi mãi trường tồn thì sự tu tập phải có kết quả “Pháp Ta không có thời gian đến để mà thấy…” Vì Phật pháp tu tập là có kết quả ngay liền, nếu không kết quả tức là tu sai pháp, tu sai đặc tướng, quá ham tu, tu không đúng cách, tu không thứ lớp, lớp thấp không tu lại tu lớp cao hơn (lớp giới luật chưa xong lại tu lớp thiền định, lớp thiền định chưa tu xong lại tu lớp trí tuệ). Người tu tập như vậy là tu tập sai pháp, tu tập uổng công.

Suốt thời gian dài tu viện Chơn Như ra đời là cố ý đi tìm những người có lòng tin với Chánh pháp của Phật. Nhưng rất ít người có lòng tin như thế các bạn ạ! Mọi người đến với tu viện Chơn Như còn đầy lòng nghi ngờ. Vì thế, sự quyết tâm và bền chí tu tập nhiệt huyết không có. Người ta tu sai và tin vào tà pháp quá nhiều, còn Chánh pháp thì người ta thờ ơ. Cho nên ăn ngủ, độc cư là chánh pháp xả tâm thì họ ném bỏ, chỉ biết ngồi lim dim như con cóc, như lên đồng nhập cốt. Thấy cách thức tu thiền của họ, biết là họ tu sai, nhưng họ chẳng đủ niềm tin với Chánh Phật pháp thì chúng tôi ngậm ngùi cũng đành bó tay vậy.

Các bạn tu thì ích lợi cho các bạn, chứ có ích lợi gì cho chúng tôi đâu, vả lại chúng tôi đã phải cực khổ như thế này mà còn mang tiếng cho họ ăn uống không đúng tiêu chuẩn. Các bạn đến đây để được tu tập ly dục ly ác pháp, để được giải thoát chứ đâu phải đến đây để ăn uống cho đầy đủ chất bổ. Có lẽ, các bạn nghĩ rằng các bạn cúng dường cho Tu Viện là để phục vụ các bạn về ăn uống. Tu Viện là chỗ tu tập để ly dục ly ác pháp như Phật đã dạy, còn muốn ăn uống ngon bổ thì vào các chùa khác, ở đó các bạn cúng dường tiền nhiều thì họ sẽ phục vụ cho các bạn, ăn uống đầy đủ. Còn ở đây, dù có cúng đường bao nhiêu tiền, các bạn cũng chỉ ăn uống đơn giản rau cải, tương dưa, muối nước tương mà thôi; còn nếu các bạn đến tu viện không có một đồng cúng dường thì các bạn cũng vẫn ăn uống như vậy.

Cho nên các bạn có cúng dường hay không cúng dường chúng tôi không quan trọng, mà chỗ quan trọng là chỗ tu tập của các bạn là phải ly dục ly ác pháp. Để ly dục ly ác pháp mà các bạn chấp ăn uống cho bổ dưỡng, thì chúng tôi xin hỏi bạn: Khi ăn uống đầy đủ chất bổ thì thân tâm bạn sanh dục và như vậy bạn ly chỗ nào? Ăn uống trong Đạo Phật là một vấn đề rất quan trọng trong sự tu tập giải thoát. Các bạn tu theo Đạo Phật hay tu theo Đạo Ăn Uống. Nếu tu theo Đạo Ăn Uống thì tu viện Chơn Như không có dạy tu tập những điều này, xin các bạn thông cảm cho.

Khi tu tập kết quả mà các bạn nhắm vào là tu tập tâm không vọng tưởng. Ở đây, kết quả không phải vậy, mà hãy xem xét kết quả về ăn, ngủ, độc cư, nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng, các bạn sống và tu tập, đã hết làm khổ mình khổ người và có lòng từ bi chưa?

Kết quả của Đạo Phật là tâm bất động trước các pháp và các cảm thọ. Nếu các bạn tu chưa có kết quả thì hãy cố gắng tu tập cho có kết quả, tu cho đạt được, tu cho chứng được. Thì đó mới gọi là tu. Chúng tôi dùng mọi cách hết sức giúp các bạn tu tập cho có kết quả này để lòng tin của các bạn tăng trưởng, nhưng các bạn đã mất lòng tin với chúng tôi thì dù chúng tôi có muốn giúp các bạn cũng chỉ hoài công vô ích mà thôi. Tự các bạn hãy chọn lấy đường đi. Chúc các bạn thành công.

*****

Muốn có được lòng tin thì các bạn phải thông suốt ba cấp và tám lớp tu tập của Phật Giáo. Vậy ba cấp tu học của Phật Giáo là gì?
– Cấp Giới luật (Thiện pháp)
– Cấp Thiền định (Tứ Thánh Định)
– Cấp Trí tuệ (Tam Minh)

Thiện pháp là gì? Thiện pháp là đạo đức nhân bản – nhân quả, không làm khổ mình khổ người. Trong đạo đức nhân bản – nhân quả, không làm khổ mình khổ người gồm có những pháp: Thất Giác Chi, Tứ Vô Lượng Tâm, Tứ Bất Hoại Tịnh, Tứ Chánh Cần, Tứ Niệm Xứ, Thân Hành Niệm. Trong Tứ Chánh Cần gồm có các định: Định Niệm Hơi Thở, Định Vô Lậu, Định Sáng Suốt, Định Chánh Niệm Tỉnh Giác.

Tứ Thánh Định là gì? Tứ Thánh Định là bốn loại định của bậc Thánh. Tứ Thánh Định gồm có là:
1. Sơ Thiền
2. Nhị Thiền
3. Tam Thiền
4. Tứ Thiền

Tam Minh là gì? Tam Minh là ba sự thông suốt hiểu biết vượt không gian và thời gian, gồm có:
1. Túc Mạng Minh
2. Thiên Nhãn Minh
3. Lậu Tận Minh

Tất cả những pháp trên đây đều gọi là vi diệu pháp. Cho nên Đức Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho lòng tin? Nghe diệu pháp, cần phải trả lời như vậy”.

Đúng vậy, muốn tu theo Đạo Phật thì các bạn cần phải nghe, học, hiểu cho thông suốt vi diệu pháp. Khi nghe học học hiểu thông suốt lý giải thoát của Vi Diệu Pháp thì lòng tin của chúng ta tăng trưởng. Cho nên, lòng tin của chúng ta có được là nhờ chúng ta thấy được sự lợi ích thiết thực cho đời sống của loài người, của bản thân. Vì vậy, vi diệu pháp là thức ăn của lòng tin. Nếu không có vi diệu pháp thì lòng tin các bạn không bao giờ có được. Vậy, trước khi vào đạo, các bạn nên tìm kinh sách Chánh pháp của Phật để nghiên cứu tìm hiểu, còn đọc và tìm hiểu sai pháp, không đúng Chánh pháp của Phật thì niềm tin ấy bị lệch lạc, sau này rất khó bỏ. Bởi, con người dễ bị ảnh hưởng xấu, hễ nghe ai nói có lý theo đặc tướng của mình hay theo quan niệm của mình thì dính mắc ngay liền và tưởng chừng cái đó là thật có, thật đúng.

Ví dụ: Linh hồn là một sự mê tín và lạc hậu đã ăn sâu vào tư tưởng của mọi người. Dù cách đây 2548 năm Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tuyên bố thân ngũ uẩn khi tan rã không còn một vật gì cả. Thế mà người ta vẫn tin rằng sau khi chết còn có sự sống. Sự thật không bao giờ có điều này, nhưng khi tư tưởng họ đã bị dính mắc vào kiến chấp này thì bảo gì họ cũng không bỏ được.

Ngay từ lúc đầu, bạn muốn tìm hiểu Phật Giáo mà nghiên cứu kinh sách Đại Thừa thì bạn đã rơi vào tư tưởng của Bà La Môn. Mà đã rơi vào tư tưởng của Bà La Môn thì bạn khó mà dứt bỏ. Vì tà pháp của Bà La Môn đã là thức ăn của lòng tin của bạn rồi thì chánh pháp không còn có thể là thức ăn của lòng tin chân chánh của bạn được nữa. Lòng tin chân chánh của bạn đã mất rồi.

*****

Muốn được nghe, học và hiểu biết về vi diệu pháp, thì các bạn phải thân cận những bậc Chân tu, bậc Giới hạnh nghiêm chỉnh, bậc chứng đạt Tứ Thánh Định, bậc chứng đắc Tam Minh. Nhờ thân cận những bậc ấy, các bạn sẽ được nghe đúng Chánh pháp của Phật: “Giới, Định, Tuệ”. Giới, Định, Tuệ là vi diệu pháp. Vi diệu pháp chỉ có những bậc tu chứng mới triển khai nổi, vì họ có đầy đủ kinh nghiệm trong sự tu tập. Còn những người sống phá giới, phạm giới mà thuyết giảng giới, định, tuệ thì làm sao giảng nổi, vì họ không có tu tập, làm sao biết chỗ nào đâu mà giảng, nói theo chữ nghĩa kiến giải là nói sai pháp, biến Chánh pháp của Phật thành Tà Pháp của ngoại đạo.

Cho nên, sự thân cận với những bậc chân tu là một điều cần thiết để thông hiểu Chánh pháp mà không bị bóp méo bởi những tư tưởng còn đắm chìm trong danh lợi của những kẻ giả tu. Sự thân cận gần gũi bậc Chân tu hằng ngày thì mới có sự lợi ích lớn, cũng giống như hằng ngày chúng ta phải ăn cơm, nhờ hằng ngày chúng ta có ăn cơm thì mới sống. Có đúng vậy không các bạn? Cho nên, Đức Phật cho sự thân cận với những bậc chân tu là thức ăn cho nghe vi diệu pháp: “Này các Tỳ Kheo! Cái gì là thức ăn cho nghe diệu pháp? Thân cận với bậc chân nhân, cần phải trả lời như vậy”. Muốn tu hành giải thoát mà không thân cận với bậc chân tu thì làm sao nghe vi diệu pháp được.

Tóm lại muốn tu theo Phật Giáo có 9 điều cần quan tâm:

– Thứ nhất: Chúng ta nên chọn một bậc Giới, Định, Tuệ, tức là chọn một bậc Thầy đức hạnh tròn đầy, để luôn luôn gần gũi thưa hỏi những điều cần hiểu biết.

– Thứ hai: Nhờ có thưa hỏi những điều cần hiểu biết, nên chúng ta mới thông hiểu Giới, Định, Tuệ và Bát Chánh Đạo, tức là vi diệu pháp của Phật Giáo.

– Thứ ba: Nhờ thông hiểu Giới, Định, Tuệ và Bát Chánh Đạo chúng ta mới vững lòng tin, mà bỏ ra những công sức tu tập, sửa sai những lỗi lầm, để đem lại cho mình một cuộc sống không làm khổ mình khổ người. Do tu tập như vậy, cuộc sống càng an lạc và hạnh phúc nên lòng tin lại càng tin mãnh liệt hơn.

– Thứ tư: Sự tu tập càng ngày càng có nhiều kết quả trong cuộc sống là phải nhờ ở pháp Như Lý Tác Ý. Chỉ có pháp Như Lý Tác ý mới tu tập Giới, Định, Tuệ và Bát Chánh Đạo có kết quả tốt đẹp thôi.

– Thứ năm: Muốn chế ngự các căn thì Chánh Niệm Tỉnh Giác cần tu tập. Chánh Niệm Tỉnh Giác gồm có: Giới, Định, Tuệ và Bát Chánh Đạo.

– Thứ sáu: Muốn tu tập Ba Thiện Hành thì các căn phải được chế ngự. Nếu không chế ngự các căn thì không thể nào thực hiện Ba Thiện Hành. Các bạn nên nhớ điều này.

– Thứ bảy: Muốn tu tập Tứ Niệm Xứ thì Ba Thiện Hành cần phải thực hiện cho được. Nếu không thực hiện được Ba Thiện Hành thì không thể nào thực hiện Tứ Niệm Xứ được. Xin các bạn nên nhớ điều này.

– Thứ tám: Muốn tu tập Bảy Giác Chi thì Tứ Niệm Xứ cần phải thực hiện cho được viên mãn. Nếu không thực hiện được Tứ Niệm Xứ thì không thể nào thực hiện Bảy Năng Lực Giác Chi được. Xin các bạn nên lưu ý và nhớ điều này.

– Thứ chín: Muốn tu tập Minh Giải thoát (Tam Minh) thì Bảy Năng Lực Giác Chi cần phải thực hiện cho được viên mãn. Nếu không thực hiện được Bảy Giác Chi viên mãn thì không thể nào thực hiện Minh giải thoát được. Xin các bạn nên lưu ý và nhớ điều này.

(Trích từ Trưởng Lão Thích Thông Lạc. Những Lời Gốc Phật Dạy. Nxb Tôn Giáo, 2006, tập II, trang 63)

VÀI NHẬN XÉT VỀ BÀI VIẾT CỦA BẠN HƯƠNG TRÀ

TRÊN MẠNG THƯ VIỆN HOA SEN

Bài viết của Mật Hạnh

Khi đánh vi tính đến bốn câu kệ “BÚA TRONG MIỆNG” trong Kinh Pháp Cú này, tôi nhớ đến bài đăng trên mạng ở trang Thư Viện Hoa Sen nói về Thầy Thông Lạc của tác giả Hương Trà.

Thưa các bạn! Tôi đã từng sống bên cạnh Thầy Thông Lạc từ lúc tám tuổi mà đến nay tôi đã ba mươi ba tuổi. Chính tôi được nghe và thấy về Thầy Thông Lạc rõ hơn ai hết. Còn bài viết của bạn Hương Trà (tôi xin mạng phép được dùng từ Bạn) chỉ phỏng đoán viết ra mà thôi, cho nên bạn Hương Trà làm một điều sai về một vị tu hành Giới luật nghiêm chỉnh trên đời này khó tìm thấy như Thầy Thông Lạc. Và vì vậy lưỡi búa trong miệng bạn ấy sẽ chém lại bạn. Hẳn bạn ấy không biết như thế!

Hai mươi ba năm trước, năm 1980, khi Thầy Thông Lạc trở về trình pháp tu với Hoà Thượng Thanh Từ thì có người nào được nghe tại buổi trình pháp này vào thời điểm đó? Các bạn chỉ được đọc thấy Thầy Thông Huyễn ghi lại qua bài “Người Chiến Thắng”. Hay vài chi tiết ở đâu đó, còn chính thức nghe và biết những điều này chỉ Thầy Thông Lạc và HT Thanh Từ mà thôi, đâu có người thứ ba. Sự thật là như thế các bạn ạ!

Vậy mà ban Hương Trà phỏng đoán rồi viết về Thầy Thông Lạc, đăng trên trang Thư Viện Hoa Sen, là một việc làm thiếu trách nhiệm đạo đức làm người, khi nói về một người nào đó huống là nói về Thầy Thông Lạc, một bậc chân tu. Khi muốn nói về một người nào thì phải hiểu biết rất rõ về người đó; nói là phải nói đúng sự thật, không thể đặt điều thêm bớt, nói phỏng chừng, nói không đúng sự thật, nói theo sự suy tưởng là phỉ báng người, là nói xấu người. Các bạn có thấy thế không?

Câu chuyện trình pháp của Thầy Thông Lạc với HT Thanh Từ, sau đó khá lâu, Thầy Thông Huyễn được nghe thuật lại và ghi chép. Cho nên sự ghi chép ấy chưa hẳn đã được đầy đủ, như trong cuộc tiếp xúc giữa Thầy Thông Lạc và HT Thanh Từ.

Nếu bạn nào muốn biết chắc rõ sự thật về cuộc gặp gỡ đó hãy về gặp Thầy Thông Lạc, thì sau đó bạn sẽ không có những lời nói không đúng sự thật, như dưới đây của bạn Hương Trà: “Sư đã không nói đúng sự thật là sư đã không tu theo pháp môn của HT Thanh Từ để HT Thanh Từ cứ tưởng là sư đã chứng đắc do pháp môn HT dạy, để HT ấn chứng cho”.

Nếu Thầy Thông Lạc không trình pháp mình tu theo Nguyên Thuỷ thì làm sao có một người đệ tử của HT Thanh Từ, quê ở Châu Đốc (An Giang) tìm đến Trảng Bàng, Tây Ninh bảo rằng HT Thanh Từ nói: “Thầy Thông Lạc chứng quả A La Hán”. Ngoài ra bạn ấy đã vô tình coi nhẹ HT Thanh Từ khi viết “để HT Thanh Từ cứ tưởng”.

Vì không hiểu đúng sự thật nên bạn Hương Trà có những lời kết luận vội vàng, biến lời nói của bạn ấy trở thành lưỡi búa chém lại bạn ấy, bạn có biết không? “Điều sư không nói đúng sự thật với HT Thanh Từ là việc của sư nhưng điều này có thể gây tai hại cho huệ mạng của những người tu sau. Sư đã thiếu lòng từ bi, vì đoạn đường sư đã đi qua không kết quả mà lại không nói rõ sự thật với HT Thanh Từ để HT Thanh Từ biết rõ hầu dạy người sau đi lối khác”. Lời kết tội này khiến cho những ai tâm hiểu biết còn nông cạn, trí tuệ còn mù mờ sẽ theo lập luận của bạn ấy mà cho rằng Thầy Thông Lạc không thành thật và thiếu lòng từ  bi. Điều này không quan trọng với Thầy Thông Lạc, nhưng tội nghiệp thay cho những người còn mang nặng kiến chấp của Đại Thừa và Thiền Tông, vì con đường chánh pháp của Phật họ đã đánh mất. Ôi! Thật đáng thương thay cho họ! Theo Phật Giáo mà lại tu tập pháp môn mê tín, ảo giác, trừu tượng, ức chế thân tâm của ngoại đạo Bà La Môn và những pháp môn tưởng giải của các vị Tổ sư Thiền Tông, Mật Tông, Tịnh Độ Tông, Bắc Tông, Nam Tông v.v…

Thưa các bạn! Có biết bao nhiêu người đã nhiệt tâm tu theo những pháp môn trên đây mà bị bệnh thần kinh không? Người dạy có chịu thay cho họ không? Hay ai bệnh nấy chịu. Tu viện Chơn Như đã đón nhận những người tu những loại thiền này. Phật không ra Phật, phàm không ra phàm. Mùi danh lợi còn sực nức khắp nơi, xem Giới luật Phật như cỏ rác.

Thầy Thông Lạc biết rõ từng tâm niệm của Thầy Tổ, huynh đệ v.v… Vả lại, còn biết được vị trí, chỗ đứng và thời gian của mình phải làm gì, chưa nên làm gì, lúc nào chưa nên nói, lúc nào nên nói, v.v… Điều này, có lẽ bạn ấy quên không để ý, nên không thấy đó mà thôi.

Còn bảo rằng Thầy Thông Lạc thiếu lòng từ bi thì bạn ấy kết luận hơi quá sớm. Nếu Thầy Thông Lạc thiếu lòng từ bi thì hôm nay các bạn không có những bài viết nói về Thầy Thông Lạc. Phải không các bạn?

Nếu Thầy Thông Lạc thiếu lòng từ bi thì bộ sách Đường Về Xứ Phật, Giới Đức Làm Người, Làm Thánh và Đạo Đức Nhân Bản Nhân Quả… không ra đời!

Vì lòng từ bi thương yêu tín đồ Phật Giáo, Thầy Thông Lạc nói thẳng, nói thật, chỉ thẳng, chỉ thật những cái sai của Phật Giáo Đại Thừa, thiền Đông Độ và Nam Tông,… để giúp cho tín đồ Phật Giáo không còn phá giới, bẻ vụn giới, xem thường giới; để giúp cho tín đồ Phật Giáo, biết đâu là chánh pháp của Phật và đâu là tà pháp của ngoại đạo và các kiến giải của các Tổ sư.

Vì lòng thương yêu tín đồ Phật Giáo, Thầy Thông Lạc không hề sợ hãi trước một thế lực vĩ đại của tất cả các hệ phái khác nhau trong Phật Giáo hiện giờ. Nếu đem ra so sánh thì Thầy Thông Lạc chẳng khác nào là hạt cát giữa bãi sa mạc. Có đúng như vậy không hỡi các bạn?

Biết rõ điều này hơn ai hết, nhưng Thầy Thông Lạc tin rằng: Tà pháp sẽ không bao giờ diệt được Chánh pháp của Phật. Tại sao vậy?

Vì lịch sử đã chứng minh cho chúng ta biết rõ những điều này: Các Tổ Bà La Môn ngày xưa đã từng tìm mọi cách diệt Phật Giáo lúc Đức Phật còn tại thế, huống hồ khi Đức Phật nhập diệt cho đến ngày nay. Các Tổ thể hiện rõ chân tướng diệt Phật Giáo qua kinh sách soạn viết đã được lưu lại. Nhưng chân lý Phật Giáo làm sao diệt được. Phải không các bạn?

Ngày nay, Thầy Thông Lạc dựng lại tất cả những gì của Phật Giáo, mà các Tổ đã ném bỏ. Xin các bạn hãy đứng trên lập trường khách quan, bình tâm, tỉnh trí, suy ngẫm lại cho thật kĩ những gì Thầy Thông Lạc đã nói, thì các bạn sẽ thấy rõ lời Thầy Thông Lạc nói không sai. Chỉ có các bạn quá thiên kiến và cố chấp kinh sách Đại Thừa, đầu đội vai mang các Tổ mà không thấy cái sai của nó mà thôi.

Xin các bạn xét lại xem, đời sống của Thầy Thông Lạc không có chùa to, Phật lớn, ăn ngày một bữa, ngủ nghỉ trên một tảng đá, trong một chòi tranh, vách liếp cột bằng cây tầm vông, vách bằng trúc tre, ba y một bát. Đời sống như vậy thì Thầy Thông Lạc cầu danh, cầu lợi để làm gì? Phải không hỡi các bạn?

Thầy Thông Lạc nói ra cái sai của Đại Thừa, Nam Tông và Thiền Tông, theo tôi nghĩ, chắc chắn Thầy sẽ chuốc hoạ vào thân, sẽ bị chống đối mạnh mẽ không thể lường được. Các bạn có đồng ý không?

Thầy nói ra không phải vì danh lợi cho Thầy, mà vì ai Thầy phải nói ra như vậy? Các bạn cứ tự suy nghĩ thì sẽ thấy câu trả lời!

Phần nhiều mọi người chưa từng biết đến một vị A La Hán như thế nào nên bạn Hương Trà đoán mò về Thầy Thông Lạc như câu dưới đây: “Một vị A La Hán biết hết tất cả, có sáu thứ thần thông, thấy, nghe, và biết mọi sự mọi vật trong vũ trụ, biết tâm và nghiệp quả đời trước, đời này và đời sau mỗi người. Thế mà sư không đọc được tâm của Hoà Thượng Bổn sư, không biết tâm HT Thanh Từ sẽ từ chối lời cầu chết (nhập Niết Bàn) của sư”.

Thưa các bạn! Lời nói của bạn ấy trên đây là dựa vào kinh sách Đại Thừa, chứ sự thật bạn ấy chưa thực sự tự mình biết trạng thái quả A La Hán như thế nào; chưa biết Tam Minh như thế nào? Cho nên, không chứng quả A La Hán, chưa có Tam Minh thì làm sao bạn ấy biết được Thầy Thông Lạc không đọc được tâm niệm của HT Thanh Từ? Bạn ấy cũng không biết tại sao Thầy Thông Lạc lại xin HT nhập Niết Bàn?

Đúng vậy, đoạn này bạn ấy viết như một người mù rờ voi. Thầy Thông Lạc chứng quả A La Hán thì phải có Tam Minh. Mà có Tam Minh thì sáu thứ thần thông tưởng mà bạn đã nêu ra còn có ý nghĩa lý gì? Thầy Thông Lạc biết rất rõ từng câu công án của HT Thanh Từ sắp hỏi và biết HT sẽ từ chối lời cầu xin nhập Niết Bàn. Vậy, các bạn có biết Thầy Thông Lạc cầu xin nhập Niết Bàn để làm gì không??? Mong các bạn suy ngẫm để hiểu ra và trả lời cho bạn Hương Trà.

Còn về điểm bảo rằng Thầy Thông Lạc không biết những người tu theo Thầy sau này sẽ rơi như sung rụng (bỏ đi không theo tu nữa).

Thưa các bạn! Mục đích của Thầy Thông Lạc xây dựng tu viện Chơn Như là để chấn chỉnh lại Phật Giáo, dẹp bỏ những gì của ngoại đạo và dựng lại những gì của Phật Giáo đã bị các Tổ ném bỏ. Vì thế, nên tuy biết rõ những người theo mình tu hành sẽ rơi rụng như sung mà Thầy vẫn nhận họ vào tu. Các bạn có biết, vì sao Thầy Thông Lạc lại làm như thế cho phí công, phí của đàn na chăng?

Biết rõ, mới nhận những người theo tu hành chứ. Các bạn có biết không?

Muốn chấn chỉnh Phật Giáo mà không có những người này, thì lấy cái gì chấn chỉnh? Phải không hỡi các bạn? Nhờ họ mà những bộ sách Đường Về Xứ Phật, Đạo Đức Làm Người, Mười Đức Thánh Sa Di, Giới Đức Thánh Tăng, Thánh Ni, Những Lời Phật Dạy, v.v… tiếp tục ra đời các bạn ạ! Bây giờ các bạn biết rồi chứ? Đúng như vậy đó!

Nhờ họ mà giáo lý Đại Thừa, Thiền Tông và Nam Tông đều rung chuyển. Nhờ họ mà hôm nay bạn Hương Trà mới có bức thư gửi lên mạng.

Như vậy bạn ấy có phải là người mù rờ voi không? bạn ấy làm sao hiểu nổi Thầy Thông Lạc mà bình luận về Thầy. Có đúng không các bạn? Sách Thầy Thông Lạc ra đời là như tiếng sét làm giật mình, đánh thức tỉnh những ai còn mê ngủ trong đêm dài vô tận của Đại Thừa, Thiền Tông, Nam Tông và kiến giải của các Tổ sư.

Như vậy, rõ ràng Thầy Thông Lạc làm việc gì đều biết trước việc mình làm. Các bạn thấy chưa?

Trong bài viết bạn Hương Trà trách Thầy Thông Lạc, không có lòng đại từ đại bi, mạt sát các Thầy Tổ từ Ấn Độ, Trung Hoa đến Việt Nam. Tôi xin trích lại đoạn viết của bạn: “Một bậc A La Hán biết hết tất cả, biết đường đi nhân quả của chúng sanh, có lòng đại từ đại bi, thương tất cả chúng sinh như con ruột, không thể nào mạt sát chúng sinh được, huống hồ lại mạt sát các Thầy Tổ. Sư đã mạt sát các Tổ Sư như các Ngài Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân, Mã Minh, Bồ Đề Đạt Ma bên Ấn Độ đến Tổ Huệ Khả, tổ Vĩnh Minh Diên Thọ bên Trung Hoa, và đến chư Thầy Tổ Việt Nam. Chỉ trước lâm chung bị bệnh đau, thế mà sư cho là tất cả đều tu sai nên tất cả đau như vậy trước khi lâm chung. Sư còn nói HT Thiền Tâm trước khi lâm chung ói máu thế này thế khác”. Bạn buộc tội Thầy Thông Lạc, theo kiểu cũng giống như toà án thế gian tuyên án phạm nhân, chỉ vì bạn ấy đâu có biết Tổ Long Thọ, Vô Trước, Thế Thân là những người đã dùng ngòi bút quét Phật Giáo tận cùng.

Khi tu tập có đôi mắt Tuệ Tam Minh, thì Thầy Thông Lạc có nỗi đau lòng vô hạn vì trong thế gian này không có một vật gì che dấu được đôi mắt đó, dù bất cứ ở thời gian và không gian nào. Do sự hiểu, thấy biết, quá rõ ràng như vậy cho nên những vị Tổ mà Thầy Thông Lạc nói đến đều có ý đồ diệt Phật Giáo một cách khôn khéo, biến tín đồ Phật Giáo thành tín đồ của Bà La Môn mà không hề ai phát giác ra được. Các bạn hãy suy ngẫm lại điểm này. Nếu không có ý đồ đen tối, sao lại chế Bồ Tát Giới cấm tín đồ Phật Giáo không được học và tu theo giáo pháp Nguyên Thuỷ (Tiểu Thừa). Các Tổ ném đá đấu tay còn bảo rằng: Bồ Tát Giới là Phật chế. Sao Phật chế Giới luật mâu thuẫn vậy? Không cho đệ tử của mình học và tu theo giáo pháp của mình. Thật là vô lý. Phải không hỡi các bạn? Nếu bạn Hương Trà có được đôi mắt Tam Minh, thấy được ý đồ xấu xa, đen tối ấy thì chính bạn ấy là người xô dẹp các Tổ, chứ không bao giờ đợi Thầy Thông Lạc và cũng không bao giờ trách móc Thầy Thông Lạc, mà trái lại còn biết ơn Thầy Thông Lạc. Phải không các bạn?

Các bạn có biết một kẻ đi cướp nước có bao giờ họ nói rằng họ đi cướp nước người khác chưa? Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh điều đó. Một ngàn năm người Trung Hoa cai trị đất nước Việt Nam, họ coi đất nước chúng ta là gì? Và gần đây, gần một trăm năm người Pháp cai trị đất nước này. Có bao giờ họ nói cho chúng ta biết rằng họ cướp nước chúng ta không? Họ thường gọi nước chúng ta là nước thuộc địa và tự xưng với dân tộc chúng ta họ là Nhà Nước Bảo Hộ. Các Tổ cũng tương tự như vậy, khi cướp được Phật Giáo thì cũng tự xưng mình là Đại Thừa (Nhà Nước Bảo Hộ), còn Phật Giáo chánh thống thì gọi là Tiểu Thừa (nước bị trị). Những điều này, các bạn có bao giờ suy ngẫm để thấy trắng đen? Có đúng không?

Nếu không có những bậc anh hùng, anh thư sáng suốt của dân tộc Việt Nam hy sinh xương máu và các sĩ phu dùng ngòi bút đánh thức toàn dân thì ngày giờ này, dân tộc Việt Nam có được một nước chủ quyền độc lập, sánh vai cùng các nước bạn năm châu bốn biển như thế này không?

Nếu bạn ấy rõ được ý đồ của Tổ Long Thọ, Thế Thân, Vô Trước thì chắc không còn đủ sức bình tĩnh như Thầy Thông Lạc nữa đâu. Bạn ấy sẽ căm tức vô cùng. Phải không hỡi bạn? Có thể nào không căm tức bạn nhỉ?

Thưa các bạn! Các bạn không có mắt Tam Minh thì làm sao các bạn thấy cái chết của các Tổ trong quá khứ, hay ngay cả trong hiện tại, chưa chắc các bạn đã trực tiếp chứng kiến những thảm trạng trước khi Thầy Tổ chết đau khổ tận cùng trên giường bệnh, mà luôn luôn các bạn chỉ nghe người ta khéo nói bưng bít bằng những danh từ “Thu Thần, Nhập Diệt”.

Thưa các bạn! Trong khi kinh sách Đại Thừa không có dạy pháp môn thu thần nhập diệt, không có dạy pháp môn làm chủ sanh, già, bệnh, chết; chỉ dạy niệm Phật cầu vãng sanh, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, niệm chú, tụng kinh, lạy hồng danh chư Phật, chẳng niệm thiện niệm ác bản lai diện mục hiện tiền, hành thâm Bát Nhã Ba La Mật, chăn trâu, biết vọng liền buông, tham thoại đầu, tham công án, v.v… Toàn những pháp môn dạy tu tập như vậy thì làm sao thu thần nhập diệt được? Họ lấy những pháp môn gì để làm chủ sanh tử luân hồi. Phải không hỡi các bạn?

Còn HT Thiền Tâm và người đệ tử của Hoà Thượng chết như thế nào? Thầy Thông Lạc không những nghe mà còn thấy bạn ạ!

Thưa các bạn! Bạn Hương Trà qua bài viết đã quá chủ quan và vội vàng kết tội Thầy Thông Lạc mà không biết một bậc A La Hán. Các Ngài tuỳ căn cơ chúng sanh, tuỳ nhân duyên thời tiết mà thuyết pháp cứu độ chúng sanh.

Do biết căn cơ chúng sanh, biết nhân duyên thời tiết, lúc nào nên làm gì và không nên làm gì. Nên có lúc Thầy Thông Lạc đã tuỳ thuận trả lời Thầy Chơn Quang trong một cuộn băng, theo kiểu đoàn kết Đại thừa và Nguyên Thuỷ để làm vui lòng huynh đệ, trong lúc uy tín và hậu thuẫn của Thầy Thông Lạc chưa vững vàng. Trước và sau đó Thầy Thông Lạc luôn lấy sự im lặng để chờ đợi.

Gần 20 năm sau ngày Chứng đạo Thầy Thông Lạc mới thuyết giảng 61 cuộn băng 90 phút, dựng lại một số những gì của Phật Giáo và dẹp bỏ một số những gì không phải của Phật Giáo.

Do không hiểu về Thầy Thông Lạc nên bạn Hương Trà đoán mò, mới có những lỗi lầm, luận sai không đúng sự thật về trí tuệ của bậc chân tu như câu dưới đây: “Hoà Thượng Thông Lạc nếu là A La Hán thật, phải biết tuỳ căn cơ chúng sinh, tuỳ nhân duyên thời tiết mà thuyết pháp cứu độ chúng sinh”.

Đọc lời luận này các bạn hãy xét lại, có đúng Thầy Thông Lạc với trí tuệ của bậc A La Hán đang làm việc để chấn chỉnh Phật Giáo không? Nếu muốn chấn chỉnh Phật Giáo mà còn dùng những pháp môn Tụng kinh, Niệm Phật, Niệm chú, Ngồi thiền ức chế tâm của Đại Thừa Bà La Môn giáo, để theo ý của bạn Hương Trà, gọi là tuỳ căn cơ của chúng sanh và tuỳ thời tiết nhân duyên, thì chúng tôi e rằng đó là Thầy Thông Lạc giẫm lại lối mòn của các Tổ ngày xưa, thực hiện theo mưu đồ của các Tổ Bà La Môn. Chính vì các Tổ không đủ trí tuệ sáng suốt thấy cái sai, cái đúng của Phật Giáo nên phải nhận lấy các pháp môn của ngoại đạo Bà La Môn, làm giáo pháp hướng dẫn tín đồ, rồi gọi đó là tuỳ căn cơ và thời tiết nhân duyên của chúng sanh.

Qua đoạn viết trên, tôi biết rằng bạn Hương Trà đang bị kiến chấp của đại Thừa, nói một cách khác là bạn ấy đã bị bệnh nặng ảnh hưởng trầm trọng tư tưởng của Đại Thừa. Cái hiểu biết “tuỳ căn cơ và thời tiết nhân duyên” theo kiểu của bạn ấy, như vậy thì không còn có nghĩa là chấn chỉnh Phật giáo nữa, mà diệt Phật Giáo đấy bạn ạ! Với trí hữu hạn, đã biến bạn ấy trở thành tay sai đắc lực để diệt Phật Giáo. Chẳng rõ bạn ấy có biết như thế không? Với trí hữu hạn, bạn ấy không thể hiểu được Thầy Thông Lạc. Mong rằng, các bạn khác không như bạn Hương Trà này!

Đọc bộ sách Đường Về Xứ Phật các bạn nên loại trừ những tư tưởng bệnh hoạn, chịu ảnh hưởng sâu đậm của Đại Thừa trong các bạn, thì các bạn mới có đủ trí tuệ khách quan nhìn sự thật về bộ sách này. Chừng đó các bạn sẽ không có những lời nói như bạn Hương Trà: “Chính sư biết tất cả tín đồ Phật Giáo Việt Nam hiện nay không tu Tịnh Độ thì lại tu Thiền Tông; không tu Thiền Tông thì lại tu Mật Tông. Ba tông phái này chiếm trọn tín đồ Phật Giáo; thế mà sư lại quyết tâm triệt hạ, chỉ trích họ là ngoại đạo, là tà giáo, chỉ riêng sư mới đúng, mới là chính phái. Không những chỉ trích ba tông phái chính của PGVN là Tịnh Độ, Thiền Tông, Mật Tông là tà, sư Thông Lạc cũng chỉ trích luôn các sư Nam Tông nào là tu sai, ăn thịt chúng sinh, ăn phi thời, phá giới, bẻ vụn giới.. Sư cũng chỉ trích cả hai vị Thiền Sư Nam Tông nổi tiếng hiện nay trên thế giới là hai ngài A-Chaan-chah và Mahàsi”.

Đúng là bạn ấy đang chịu ảnh hưởng Đại Thừa quá sâu đậm, nhưng không đáng trách vì Đại Thừa đã truyền thừa vào đất nước này quá lâu, nên nó đã ăn sâu vào tư tưởng của mọi người và đã trở thành những phong tục, tập quán mê tín, dị đoan, lạc hậu, thiếu khoa học, đầy vẻ hoang đường, mơ hồ, trừu tượng v.v… (sau cái chết có sự sống, linh hồn nghe kinh…). Vả lại, các bạn ấy cũng không có công phu tu tập và nghiên cứu kinh Nguyên Thuỷ, cho nên không thấy cái sai của những giáo pháp Đại Thừa này đối với Phật Giáo.

Hiện giờ cái nhìn của bạn ấy về Phật giáo là cái nhìn kiến chấp của Đại Thừa và kiến giải của hai ngài “A-Chaan-chah và Mahàsi”. Vì thế tư tưởng bị méo mó, nên không thấy cái chân thật của Phật Giáo mà cho rằng: “chỉ riêng sư mới đúng, mới là chính phái”.

Xin các bạn vui lòng lấy những pháp môn Thiền, Mật, Tịnh và pháp môn kiến giải của ngài A-Chaan-chah và Mahàsi tìm xem và đối chiếu với Bát Chánh Đạo, xem nó đang ở nẻo nào? Và nó thuộc vào pháp môn nào trong 37 phẩm trợ đạo của Phật Giáo? Xét cho chín chắn thì chúng không giống một pháp môn nào của Phật cả. Đã không giống thì làm sao gọi những pháp môn này là của Phật Giáo được. Phải không các bạn? Đừng tin các Ngài mặc y sắc bất hoại là các Ngài thực hành Phật pháp!

Trong thời Đức Phật còn tại thế, ngài thuyết pháp độ sanh thường khuyên bảo chúng ta có 10 điều không nên tin:

“Này Kàlàmà!

1. Chớ có tin vì nghe truyền thuyết.

2. Chớ có tin vì theo truyền thống.

3. Chớ có tin vì nghe người ta nói (tin đồn).

4. Chớ có tin vì được kinh tạng truyền tụng.

5. Chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình.

6. Chớ có tin vì đúng theo một lập trường.

7. Chớ có tin vì phù hợp với định kiến những dự kiện của mình.

8. Chớ có tin vì phát xuất nơi có uy quyền.

9. Chớ có tin vì bậc Sa Môn là Đạo sư của mình v.v…”

Và Ngài khuyên chúng ta nên tin một điều: “Nhưng này Kàlàmà! Khi nào tự mình biết rõ như sau: Các pháp này bất thiện, các pháp này là có tội, các pháp này bị người có trí hiểu biết chỉ trích; các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau. Thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng, không nên tin theo”.

Thưa các bạn! Phật Giáo sau nhiều năm tháng truyền thừa, đi từ nước này đến nước khác, các Tổ chịu ảnh hưởng ngoại lai, tích luỹ những cái không đúng của Phật Giáo quá nhiều, trên đường hoằng hoá độ sanh vì muốn có nhiều tín đồ theo mình nên tuỳ thuận mê tín của dân gian, biến giáo pháp của Phật thành giáo pháp mê tín để phục vụ dân gian. Vả lại, các Tổ chưa ly dục, ly ác nên tâm còn tham đắm dục lạc thế gian, vì thế giới luật đã bị bẻ vụn tan nát. Sợ tín đồ biết mình phạm giới nên cấm không cho người Cư sĩ học đọc Giới luật, chẳng những thế, các Tổ còn thêm Kinh bớt Luật rất nhiều, làm lệch lạc đường lối tu tập chân chánh của Phật Giáo.

Vả lại, một số các Tổ hữu ý và một số Tổ vô tình lại quên mất giáo lý của Phật Giáo, hay nói một cách khách là các Tổ đã ném bỏ giáo lý của Phật Giáo mà nhận giáo lý ngoại lai, cố gán ghép làm giáo lý của Phật. Thật là đau lòng.

Hôm nay, Thầy Thông Lạc dựng lại những gì của Phật Giáo đã bị các Tổ ném bỏ, và đập phá những gì không phải của Phật Giáo, để chấn chỉnh Phật Giáo trở lại là một Phật Giáo chân chánh của chính nó, chứ Thầy Thông Lạc không có pháp môn nào cả và cũng không thêm bớt vào một pháp môn nào. Do sự không hiểu về Thầy Thông Lạc nên bạn Hương Trà có những lời vô tình tuyên truyền làm tay sai cho giặc ngoại xâm Đại Thừa: “Như thế, vô tình chung sư Thông Lạc đả phá hết Phật Giáo rồi còn gì?

Nói một cách vắn gọn, sư Thông Lạc tự cho mình là A La Hán, là Phật, là trên hết không còn ai hơn mình. Chỉ sư mới là chính phái, tất cả còn lại đều là tà hết”.

Thưa các bạn! Thầy Thông Lạc chưa bao giờ tự cho mình là “A La Hán, là Phật, là trên hết, không còn ai hơn mình”, mà Thầy Thông Lạc tự biết mình có chứng quả A La Hán hay không chứng quả A La Hán, tự biết được Phật Giáo có cái sai, cái đúng, và cũng tự biết mình chấn chỉnh lại Phật Giáo được hay không được. Nên hiện giờ, Thầy cố gắng làm được càng nhiều những gì cho Phật Giáo; làm được càng nhiều những gì tốt đẹp cho đời; làm được càng nhiều những gì được lợi ích cho mọi người thì Thầy làm.

Phật Giáo hiện giờ có cái sai rất nhiều, chắc có lẽ các bạn cũng nhận thấy được điều này. Phải không các bạn? Thầy Thông Lạc mong ước các bạn cùng với Thầy góp sức để dẹp bỏ những tệ hại mê tín, trừu tượng, ảo giác của cái gọi là Phật Giáo và đồng tâm hợp lực, dựng lại những cái gì của Phật Giáo đã mất.

“Một cây làm chẳng nên non

Ba cây dụm lại nên hòn núi cao”

Muốn chấn chỉnh lại Phật Giáo để làm chỗ nương tựa tinh thần của tín đồ được tốt đẹp hơn, có ích lợi hơn thì không có sức mạnh nào bằng sức mạnh đoàn kết của tín đồ Phật Giáo. Các bạn vui lòng chứ?

Bạn Hương Trà không hiểu được tâm nguyện của Thầy Thông Lạc, Thầy sử dụng lời nói mạnh và thẳng thắn về một sự thật đau lòng của Phật Giáo, như tiếng sét rền vang để thức tỉnh mọi người. Nhờ có tiếng sét này nên bạn ấy mới dùng những danh từ: “hằn học, mạ lị, mạt sát”. Chính bạn ấy đã bị những tiếng sét của Thầy Thông Lạc, nhưng còn bình tĩnh đọc sách của Thầy Thông Lạc, chứ có nhiều người chỉ đọc một vài trang là đã ném vào sọt rác. Thật đấy các bạn ạ!

Thời nay tu hành chưa có ai chứng quả A La Hán, nên mọi người đều hiểu bậc chứng quả A La Hán qua tư tưởng của Thiền Tông Trung Hoa, tâm như cục đá gốc cây “Vô phân biệt” theo kiểu chứng ngộ của Thiền Tông: “Một bậc A La Hán không thể nào có những lời phân biệt thế này, thế nọ, thấy cái này sai, cái kia đúng”. Trong khi Đức Phật chứng quả A La Hán xong, Ngài phân biệt rất rõ cái sai, cái đúng trong giáo pháp của Bà La Môn, nên Ngài thẳng tay đập phá rất mạnh những cái sai của Bà La Môn và dựng lại những cái đúng mà ngày nay chúng ta mới có Bốn Chân Lý và những chánh pháp tu tập, từ Đạo đức làm Người, làm Thánh, đến Thiền định làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt sanh tử luân hồi.

Thưa các bạn! Pháp môn Đại Thừa đâu có mắng chửi gì Thầy Thông Lạc mà Thầy phải hằn học, mạ lị, mạt sát nó. Có đúng như vậy không các bạn? Nó chỉ dạy cho tín đồ Phật Giáo trở thành những người mê tín, lạc hậu, gây ra bao nhiêu sự tốn hao một cách nhảm nhí của mọi người, chứ Thầy Thông Lạc có hao tốn gì đâu mà lại hằn học, mạ lị, mạt sát. Thế mà bạn Hương Trà nỡ nhẫn tâm gán ép cho Thầy Thông Lạc những danh từ mà người đời không tu tập chỉ có một chút đạo đức còn không làm: “Một bậc A La Hán không thể nào có những lời hằn học, những lời mạ lị, mạt sát người khác hay môn phái khác”.

Thầy Thông Lạc nói Đại Thừa, Mật Tông, Thiền Tông, Tịnh Độ Tông, Thiền sư A-Chaan-Chah, Mahàsi sai là vì các hệ phái này và hai vị thiền sư dạy tu theo Phật Giáo mà không giống giáo lý của Phật Giáo chút nào, buộc lòng Thầy Thông Lạc nói ra sự thật để cho Phật Tử cảnh giác nhận xét kỹ lại xem coi lời Thầy Thông Lạc có đúng không mà thôi. Nếu thấy lời Thầy Thông Lạc sai thì cứ theo các pháp Đại Thừa mà tu tập, Thầy Thông Lạc có bao giờ ngăn cản đâu. “Tự do tín ngưỡng mà”. Trong vấn đề tôn giáo không ai có quyền bắt buộc ai. Phải vậy không các bạn?

Thưa các bạn! Bạn Hương Trà nói ra câu này là dựa theo kinh sách Đại Thừa: “Theo tâm lý học người đời, ai cũng biết người nào còn nói tâm tôi thanh tịnh là người đó tâm còn ô nhiễm. Ai cũng biết người nào còn thấy mình tu chứng quả A La Hán là người đó chưa chứng quả A La Hán. Ai cũng biết người nào còn tâm phân biệt, chống đối các pháp môn khác là người đó chưa chứng đắc. Người nào còn thấy mình đúng, người khác sai là người đó chưa chứng đắc. Điều này thật hiển nhiên.”

Bạn ấy bắt chước câu nói này trong kinh Kim Cang mà bạn không hiểu nghĩa của nó, vô tình bạn chỉ cho mọi người thấy sự kém cỏi của mình.

Bây giờ, tôi xin các bạn vui lòng hỏi bạn Hương Trà trả lời những câu hỏi sau đây, xem bạn ấy trả lời như thế nào:

Câu hỏi thứ nhất: Khi tâm bạn có sân, bạn có biết tâm bạn có sân không? Nếu bạn Hương Trà trả lời không biết, là bạn ấy dối bạn đó!

Câu hỏi thứ hai: Khi tâm bạn không sân, bạn có biết tâm bạn không sân không? Nếu bạn Hương Trà trả lời không biết, là lần nữa bạn ấy đã dối bạn, thiếu thành thật với bạn. Phải không các bạn?

Câu hỏi thứ ba: Khi bạn ăn một cái bánh, bạn có biết mùi vị đắng, cay, ngọt, bùi, béo, mặn, lạt của cái bánh không? Nếu bạn Hương Trà bảo rằng không biết, là bạn ấy đã dối bạn, bạn ấy không thành thật với bạn. Các bạn đồng ý chứ!

Cho nên, người chứng quả A La Hán phải biết mình chứng quả A La Hán. Trạng thái tâm Vô Lậu của người chứng quả A La Hán, không giống trạng thái tâm hữu lậu của kẻ phàm phu. Bởi vậy, bạn ấy chưa bao giờ thưởng thức quả bánh A La Hán, rồi nghe lời các Tổ là những người chưa được nếm mùi vị nên mới bảo rằng: “Người nào còn thấy minh tu chứng quả A La Hán là người đó chưa chứng quả A La Hán”. Cho nên người xưa bảo: “Thực bất tri kỳ vị” có nghĩa là ăn mà không biết mùi vị ăn, không biết mùi là loại vật gì? Các bạn biết không? Xem thế, mới đủ biết các nhà Đại Thừa chỉ lừa đảo với người tu chưa chứng, còn những người tu chứng thì làm sao lừa gạt được.

Thưa các bạn! Ở đây, bạn Hương Trà dùng chữ tâm lý học không đúng các bạn ạ! Tâm lý con người là có sự hiểu biết, có sự cảm nhận, chứ không phải tâm lý con người như đất, đá không hiểu biết, không cảm nhận. Phải không các bạn? Còn biết mà không dám nói là hèn nhát bạn ạ! Là chịu ảnh hưởng của tư tưởng Đại Thừa “vô sở đắc”. Xưa, Đức Phật tu chứng quả A La Hán, Ngài tự xưng mình chứng quả A La Hán, như vậy, theo lập luận của Đại Thừa, Đức Phật chưa chứng quả A La Hán sao? Thật là vô lý. Phải vậy không hỡi các bạn?

Còn Thầy Thông Lạc chưa bao giờ tự xưng mình chứng quả A La Hán, mà chỉ trình bày cách thức tu tập, nhập Tứ Thánh Định, thực hiện Tam Minh và trạng thái Tâm Vô Lậu với HT Thanh Từ. Từ đó, mới có tiếng đồn trong giới Phật tử: “Thầy Thông Lạc chứng quả A La Hán”. Cho nên, trong bài viết của bạn Hương Trà về Thầy Thông Lạc chưa được đúng. Như những điều bạn đã viết, vô tình bạn đã làm quảng cáo về Thầy Thông Lạc, khiến cho Phật tử khắp nơi trên thế giới đều biết đến Thầy Thông Lạc chứng quả A La Hán.

Các bạn cũng biết, những điều bạn ấy viết đâu phải mọi người đều tin và nghe theo hết đâu, bởi vì mọi người đều có trí tuệ. Thậm chí, những lời Phật dạy trong kinh chưa chắc người ta đã tin hết hoàn toàn. Phải không các bạn?

Xin đọc lại lời luận vay mượn của bạn Hương Trà trong kinh sách Đại Thừa: “Theo tâm lý học người đời, ai cũng biết người nào còn nói tâm tôi thanh tịnh là người đó tâm còn ô nhiễm. Ai cũng biết người nào còn thấy mình tu chứng quả A La Hán là người đó chưa chứng quả A La Hán. Ai cũng biết người nào còn tâm phân biệt, chống đối các pháp môn khác là người đó chưa chứng đắc. Người nào còn thấy mình đúng, người khác sai là người đó chưa chứng đắc. Điều này thật hiển nhiên.”

Tóm lại, lời luận trên đây của bạn ấy là sự vay mượn trong kính sách Đại Thừa, cố ý “hạ uy tín” của Thầy Thông Lạc với tín đồ Phật Giáo để giữ gìn và bảo vệ tư tưởng mê tín, trừu tượng, ảo tưởng của Đại Thừa, nhưng vô tình bạn đã quảng cáo về Thầy Thông Lạc. Có đúng như vậy không các bạn?

Khi đọc, thấy bài viết của bạn Hương Trà và một số bài của các vị khác trên trang Thư Viện Hoa Sen, chúng tôi có hỏi ý Thầy, thì Thầy bảo chúng tôi nên im lặng như Thánh, vì Thầy là người tu hành đã giải thoát, dù ai có nói gì thì Thầy cũng vẫn là người giải thoát. Đối với thầy, thì danh lợi như nước qua cầu. Ai có duyên đến với Thầy thì Thầy phải khổ cực dạy bảo, nuôi cơm, hướng dẫn cho tu tập để ly dục, ly ác pháp. Mọi người ăn rồi ở không, tu tập, không bắt ai phải lao động làm gì cả. Như vậy, bài viết của bạn ấy là những điều may mắn giúp cho Thầy Thông Lạc khỏi bận rộn, sống thảnh thơi, an lạc hơn.

Khi chúng tôi đánh máy vi tính tập II Những Lời Phật dạy này, đến đoạn kinh Pháp cú:

“Con người được sanh ra,

Sanh với búa trong miệng,

Người ngu nói điều xấu,

Là tự chém vào mình”.

Nhớ lại bài viết của bạn đăng trên trang Thư Viện Hoa Sen, lẽ ra tôi không viết bài này, vì Thầy Thông Lạc căn dặn chúng tôi phải im lặng như Thánh, dù bất cứ ai có bất cứ hành động gì chống đối, chỉ trích hay phê bình. Nhưng bài kinh đã khiến tôi nghĩ đến các bạn khác, có thể vì chưa suy nghiệm kỹ mà bị lập luận này của bạn Hương Trà đưa đến những tác hại không nên có, về những chỉ trích sai lầm có tính cách mạ lị một vị cao Tăng có giới đức nghiêm chỉnh, đức từ, bi, hỷ, xả khó có ai hơn, mà chúng tôi khó gặp trong thời này. Phải nói rằng, bài viết của bạn Hương Trà tai hại quá chừng cho chính bạn ấy và có thể cho một số khác nữa.

Tôi khẳng định về sự nghiêm trì Giới luật và Đức hạnh tròn đủ của Thầy Thông Lạc, bởi lẽ tôi sống với Thầy từ năm lên tám tuổi như trên đã nói. Cho nên, tôi hiểu Thầy Thông Lạc hơn ai hết vì tôi luôn sống bên cạnh Thầy. Ngoài hai điểm giới luật nghiêm túc và đức hạnh tròn đủ, còn một điểm nữa mà chưa chắc ai bằng được, đó là Thiền định sâu mầu của Thầy. Thế mà, bạn Hương Trà không biết tí gì hết mà lại bạo gan luận về Thầy Thông Lạc. Xưa, Đức Phật đã khuyên nên sống thân cận một thời gian với vị Sa Môn để có nhận xét đúng về vị ấy. Tôi đã được cái may mắn này cho nên biết như thật bạn Hương Trà đã luận sai. Tôi nghĩ rằng bạn Hương Trà rất đáng thương, cũng như những bạn khác có thiên kiến như bạn ấy. Dù sao, tôi cũng phải xin sám hối với Thầy Thông Lạc vì đã vi phạm lời dạy của Thầy.

Tôi đã khẩn khoản xin Thầy Thông Lạc cho in bài này vào tập II Những Lời Phật Dạy, để khuyên các bạn khác một khi muốn luận bàn về Thầy Thông Lạc hay bất kỳ một vị cao Tăng đang còn sống nào thì hãy đến gặp họ một lần, nếu được hãy sống thân cận một thời gian để có sự nhận định đúng, viết không sai, bởi lẽ hành vi của mình sai là tự làm khổ mình. Nhân ác thì phải nhận quả ác, không thể nào tránh thoát được.

Muốn luận bàn một vấn đề gì thì phải luận bàn cho đúng, đừng luận sai sự thật, vì luận sai sự thật như búa trong miệng sẽ tự chém mình, như lời Đức Phật đã dạy:

“Con người được sanh ra,

Sanh với búa trong miệng

Người ngu nói điều xấu,

Là tự chém vào mình”.

Trong một bức thư ngỏ đăng ở tập III Những Lời Phật Dạy, Thầy Thông Lạc khuyên khi nào các bạn tu tập chứng Tam Minh dùng nó mà quan sát Thầy Thông Lạc, chừng đó các bạn mới đủ như thật biết, để bình luận sai trái về các sách của Thầy, cũng như cá nhân của Thầy Thông Lạc. Còn chưa có Tam Minh mà các bạn luận bàn thì không thể chính xác, cũng giống như bài viết của bạn Hương Trà ở trên đây.

Đứng dưới chân núi, chỉ nhìn lên đỉnh núi rồi luận bàn thì làm sao đúng được, phải không các bạn? Làm sao biết đúng được cái gì?

Hiện nay, Thầy Thông Lạc trong tuổi đời bảy mươi tám (năm 2005), ngày đêm mài miệt đem hết sức lực còn lại của mình để dựng lại nền đạo đức Nhân bản – Nhân quả của Phật Giáo, ngõ hầu đem lại sự an vui, hạnh phúc cho loài người trên khắp hành tinh này. Thế mà, có bạn đã vì kiến chấp theo các vị Tổ sư Đại Thừa và Thiền Tông tiếp tay diệt Phật Giáo, làm cho một số ít người khi đọc đến bài viết của bạn ấy đã hoang mang dao động với Chánh Pháp của Phật. Tội ấy làm sao tránh đây hỡi các bạn?

Riêng Thầy Thông Lạc thành thật biết ơn bạn Hương Trà và những người khác. Nhờ các bài viết như thế mà nhiều tín đồ Phật Giáo khắp nơi trên thế giới biết được người tu sĩ nghèo cùng, vô danh, tầm thường như Thầy Thông Lạc.

Thân ái chào các bạn và chúc các bạn thành công trong ước nguyện…

Kính ghi

Mật Hạnh

Thiền sinh Tu Viện Chơn Như

vvvvv

P/S: Đây là Link download cuốn sách Tạo Duyên Giáo Hóa Chúng Sinh – cuốn sách có 2 bài viết: “Người Chiến Thắng” và “Trở Về Đạo Phật”:

http://chonlac.org/Kinhsach/TaoduyenGiaoHoaChungSanh_1.pdf

http://chonlac.org/Kinhsach/TaoduyenGiaoHoaChungSanh_2.pdf

Hello world!

I’m Tâm Phúc, Nice to meet you !

The Path


Best of the paths is the eightfold,
best of the truths the four;
best of the virtues is freedom from attachment;
best of the people is the one who sees.
This is the path;
there is no other that leads to the purifying of insight.

Follow this path, and Mara will be confused.
If you follow this path, you will end your suffering.
This path was preached by me
when I became aware of the removal of the thorns.
You yourself must make the effort.
The perfected ones are only preachers.
Those who enter the path and practice meditation
are released from the bondage of Mara.

“All created things perish.”
Whoever realises this transcends pain;
this is the clear path.

“All created things are sorrow.”
Whoever realises this transcends pain;
this is the clear path.

“All forms are unreal.”
whoever realises this transcends pain;
this is the clear path.

Whoever does not rise when it is time to rise,
who, though young and strong, is lazy,
who is weak in will and thought,
that lazy and idle person will not find the path of wisdom.

Watching one’s speech, restraining well the mind,
let one not commit any wrong with one’s body.
Whoever keeps these three roads of action clear,
will make progress on the path taught by the wise.

Through meditation wisdom is gained;
through lack of meditation wisdom is lost.
Whoever knows this double path of progress and decline,
should place oneself so that wisdom will grow.

Cut down the forest of desires, not just a tree;
danger is in the forest.
When you have cut down the forest and its undergrowth,
then, mendicants, you will be free.

As long as the desire, however small,
of a man for women is not destroyed,
so long is his mind attached,
like a sucking calf is to its mother.

Cut out the love of self,
like an autumn lotus, with your hand.
Cherish the path of peace.
Nirvana has been shown by the Buddha.

“Here I shall live in the rain,
here in winter and summer.”
Thus thinks the fool, not thinking of death.
Death comes and carries off that person
who is satisfied with one’s children and flocks,
whose mind is distracted,
like a flood carries off a sleeping village.

Sons are no help, nor a father, nor relations;
for one who is seized by death, there is no safety in family.
Understanding the meaning of this, the wise and just person
should quickly clear the path that leads to nirvana.

(unkown)